Bồi dưỡng HSG Ngữ văn 12 - Chuyên đề: Phong cách tác giả - Trịnh Thị Nhung
Bạn đang xem tài liệu "Bồi dưỡng HSG Ngữ văn 12 - Chuyên đề: Phong cách tác giả - Trịnh Thị Nhung", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên.
File đính kèm:
boi_duong_hsg_ngu_van_12_chuyen_de_phong_cach_tac_gia_trinh.pdf
Nội dung tài liệu: Bồi dưỡng HSG Ngữ văn 12 - Chuyên đề: Phong cách tác giả - Trịnh Thị Nhung
- SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO Trường THPT Lý Thường Kiệt Chuyên đề bồi dưỡng học sinh giỏi PHONG CÁCH TÁC GIẢ Giáo viên: Trịnh Thị Nhung Năm học 2019
- 1. Khái niệm phong cách Phong cách tiếng Hy Lạp cổ là “stylos” nghĩa là một cái que vót nhọn để viết trên các tấm bảng đã phủ nến”. Ban đầu, các nhà văn La Mă dùng từ trên theo lối hoán đổi để chỉ ra các đặc điểm của lời văn viết của một tác giả nào đó. Sau này, khái niệm phong cách đã được dùng rộng răi, phổ biến, không chỉ trong lĩnh vực văn học nghệ thuật mà còn được dùng trong nhiều ngành khoa học và đời sống như kiến trúc, điện ảnh, thời trang Đầu thế kỉ XX, thuật ngữ phong cách đã được quan tâm sâu sắc. Ở Liên xô cũ, viện sĩ M.B.Khrápchencô đă dành khá nhiều công sức nghiên cứu vấn đề này. Trong cuốn: Cá tính sáng tạo của nhà văn và sự phát triển của văn học, ông đã thống kê và đưa ra đến gần 20 cách hiểu khác nhau về phong cách. Hê Ghen trong cuốn Mĩ học tập 1 cũng chỉ ra rằng: “Phong cách nói chung bao hàm tính chất độc đáo của một chủ thể nhất định. Chủ thể này sẽ biểu lộ trong phương thức biểu đạt, trong cách nói năng”. Ông khẳng định: “Hạt nhân của phong cách nghệ thuật là tính chất độc đáo của một chủ thể nhất định”. Ở nước ta, mãi những năm 80 của thế kỉ XX, việc nghiên cứu về phong cách mới được chú ý đến. Cuốn Từ điển văn học do Đỗ Đức Hiểu chủ biên (1984) đă đưa ra định nghĩa: phong cách “Là chỗ độc đáo mang phẩm chất thẩm mĩ cao được kết tinh trong sự sáng tạo của nhà văn. Không phải nhà văn nào cũng tất yếu có phong cách”; “Phong cách không chấp nhận sự chóng phai mờ, nhưng phải lặp đi lặp lại một cách đổi mới”. Cuốn 150 thuật ngữ văn học do Lại Nguyên Ân biên soạn, Từ điển thuật ngữ văn họcdo tập thể các tác giả Lê Bá Hán, Trần Đình Sử, Nguyễn Khắc Phi (đồng chủ biên) cũng nêu lên khái niệm phong cách. Tác giả Phương Lựu khi viết cuốn Lý luận văn học cũng đă khẳng định: “Phong cách là chỗ độc đáo về tư tưởng cũng như nghệ thuật có phẩm chất thẩm mĩ được thể hiện trong sáng tác của những nhà văn ưu tú. Nó đòi hỏi trước hết nhà văn phải đem lại tiếng nói mới cho văn học”. Như vậy, dù diễn đạt dưới những hình thức khác nhau nhưng các nhà nghiên cứu đều chỉ ra rằng: Điểm cốt lõi, yếu tố quyết định tạo lên phong cách nghệ thuật của nhà văn là tính độc đáo thể hiện trong sáng tác. Phong cách bắt nguồn sâu xa từ hiện thực khách quan, bằng thực tiễn sống của nhà văn. Nhà văn muốn tạo cho mình phong cách riêng trước hết phải có cách cảm nhận thế giới độc đáo, có tư tưởng nghệ thuật độc đáo, và có phương thức thể hiện
- độc đáo phù hợp với nội dung của nó. Bởi vì sự thống nhất của các phương tiện biểu hiện phù hợp với cách nhìn độc đáo đối với đời sống sẽ tạo nên “diện mạo riêng biệt” trong sáng tác của nhà văn và đó chính là phong cách của người nghệ sĩ. Như vậy, căn cứ duy nhất để khẳng định phong cách tác giả là những yếu tố thể hiện sự độc đáo trong sáng tác của nhà văn, thể hiện tài năng của người nghệ sĩ. Phong cách có thể được biểu hiện ở nội dung tư tưởng, cách nhìn, cách khám phá hiện thực của nhà văn. Cách nhìn ấy sẽ chi phối đến thế giới nhân vật, giọng điệu, ngôn ngữ tức là chi phối đến hình thức nghệ thuật của tác phẩm. Nhà văn Pháp Mácxen Pruxt đă viết: “Đối với nhà văn ( ) phong cách không phải là vấn đề kĩ thuật mà là vấn đề cách nhìn”. Cái nhìn hay thế giới quan chính là yếu tố quan trọng tạo nên phong cách người nghệ sĩ. Nhà văn Nguyễn Tuân đă nhấn mạnh: “Mỗi người viết có một cái vision (nhãn quan) riêng, nó sinh ra phong cách”. Nói tóm lại: Phong cách chính là những biểu hiện độc đáo của tài năng sáng tạo nghệ thuật, có tính chất thống nhất và tương đối ổn định được lặp đi lặp lại trong nhiều tác phẩm của nhà văn, thể hiện cái nhìn và sự chiếm lĩnh nghệ thuật độc đáo của nhà văn đối với thế giới và con người. Phong cách nhà văn vừa thống nhất, ổn định vừa luôn vận động biến đổi qua mỗi giai đoạn, mỗi chặng đường sáng tác, nó chịu sự chi phối của các yếu tố khách quan: môi trường, xă hội, thời đại. Tuy vậy, yếu tố độc đáo mang tính chất thẩm mĩ - hạt nhân của phong cách nhà văn vẫn ổn định, bền vững và vẫn thường xuyên lặp lại. Phong cách văn học là những nét độc đáo, riêng biệt trong cách cảm nhận và tái hiện đời sống của một tác giả, được thể hiện qua các yếu tố nội dung và hình thức nghệ thuật cụa từng tác phẩm cụ thể. Yếu tố cốt lõi của phong cách là cái nhìn mang tính phát hiện, in đậm dấu ấn riêng của người nghệ sĩ: "Thế giới được tạo lập không phải một lần, mà mỗi lần ne;ười nghệ sĩ độc đáo xuất hiện thì lại một lần thế giới được tạo lập" (M. Pru-xtơ). Phong cách văn học còn mang dấu ấn của dân tộc và thời đại. Trong phong cách riêng của mỗi tác giả, người ta có thể nhận ra diện mạo tâm hồn, tính cách của một dân tộc và "Mỗi trang văn đều soi bóng thời đại mà nó ra đời" (Tô Hoài). Chẳng hạn, qua những biểu hiện của phong cách Nguyễn Du trong Truyện Kiều, có thể thấy nét riêng của tâm hồn Việt Nam và dấu ấn của một thời "dâu bể". 2. Nêu những biểu hiện cơ bản của phong cách văn học: Phong cách vãn học trước hết được biểu hiện qua cái nhìn và giọng điệu độc đáo, riêng biệt của tác giả. Ví dụ: Cái nhìn tài hoa, có khả năng khám phá mọi đối tượng
- từ phương diện thẩm mĩ của Nguyễn Tuân. Qua cái nhìn ấy, thiên nhiên hiện lên như những công trình mĩ thuật hoàn hảo của tạo hoá; con người luôn tiềm ẩn tư chất nghệ sĩ, tài hoa, tài tử. Giọng điệu trào phúng của Nguyễn Khuyến thì hóm hỉnh, thâm trầm trong khi tiếng cười của Tú Xương lại châm biếm sâu cay, đả kích quyết liệt. Các lớp nội dung của tác phẩm như đề tài, chủ đề, cốt truyện, nhân vật, cũng là những yếu tố thổ hiện phong cách văn học. Nói đến Nam Cao là người ta nghĩ ngay tới một nhà văn của "những kiếp lầm than”, một người cầm bút với tâm hồn rộng mở để đón nhận "những vang động của đời". Nhắc tới Xuân Diệu là người đọc nhớ về một hồn thơ luôn khát khao giao cảm với đời, luôn nồng nàn, say đắm trong tình yêu. Phong cách văn học còn được biểu hiện qua hệ thống các phương tiện nghệ thuật mà nhà văn lựa chọn để tái hiện đời sống, từ cách dùng từ, lối cấu tạo câu đến nghệ thuật xây dựng nhân vật, tổ chức kết cấu. Tô Hoài nổi tiếng là nhà văn giỏi miêu tả phong tục, giỏi khắc hoạ nét đẹp riêng trong cảnh vật và tính cách con người của một vùng đất. Nguyễn Tuân xứng đáng với danh hiệu bậc thầy trong nghệ thuật sử dụng ngôn từ với khả năng sáng tạo những từ ngữ, hình ảnh mới lạ, bất ngờ; nhữngcâu văn giàu chất nhạc, chất hoạ, linh hoạt như "biết co duỗi nhịp nhàng". Trong biểu hiện của phong cách văn học luôn có sự hoà quyện giữa các yếu tố định hình, thống nhất và sự biến đổi đa dạng, phong phú. Và điều quan trọng nhất là phong cách phải có ý nghĩa thẩm mĩ - mang đến cho người đọc những tình cảm, cảm xúc thẩm mĩ phong phú. Biểu hiện phong cách của một số tác giả HỒ XUÂN HƯƠNG Tác phẩm nổi bật nhất của bà là số thơ Nôm trong Xuân Hương Thi Tập (dù có đôi bài đáng nghi vấn). Ngoài ra bà còn để lại tập thơ chữ Hán tựa đề Lưu Hương Ký. Thơ văn bà có ý lẳng lơ, mai mỉa, tinh nghịch, táo bạo, nhưng chứa chan tình cảm lãng mạn, thoát ly hẳn với những lễ giáo phong kiến thời bấy giờ. Cách tả cảnh, tả tình, cách dùng từ trong thơ Nôm của bà có một không hai, vô cùng sống động và đặc sắc. Xuân Diệu đánh giá thơ Hồ Xuân Hương là "tót vời của nguồn thơ nôm na bình dân". BÀ HUYỆN THANH QUAN Ngôn ngữ thơ Hồ Xuân Hương được xây dựng bởi những động từ chỉ hành động, tính từ chỉ phẩm chất, và trạng từ chỉ cách thức và mức độ thì thơ Bà Huyện Thanh
- Quan lại chỉ được kiến tạo bằng những danh từ mà phần lớn lại là danh từ Hán Việt: tạo hóa, hý trường, tinh sương, thu thảo, tịch dương, tuế nguyệt, tang thương, kim cổ, đoạn trường, cố quốc, phế hưng, hoàng hôn, ngư ông, mục tử, viễn phố, cô thôn, chương đài, lữ thứ, khoáng dã, bình sa Nhiều câu thơ của Thanh Quan dường như chỉ là sự ghép lại của những danh từ: Lối xưa xe ngựa hồn thu thảo Nền cũ lâu đài bóng tịch dương TỐ HỮU Tố Hữu là nhà thơ trữ tình chính trị thể hiện nồng nhiệt tự hào lý tưởng cách mạng, đời sống cách mạng của nhân dân ta. Tố Hữu là nhà thơ của lẽ sống lớn, tình cảm lớn, niềm vui lớn. Khuynh hướng sử thi, cái tôi trữ tình – cái tôi chiến sĩ mang tầm vóc hoành tráng, màu sắc lịch sử được diễn tả bằng bút pháp thần thoại hóa, hình tưởng thơ kì vĩ, tráng lệ. Nét đặc sắc trong thơ Tố Hữu là có giọng điệu riêng. Thơ liền mạch, nhất khí tự nhiên, giọng tâm tình, ngọt ngào tha thiết. Thơ trữ tình chính trị. Nghệ thuật thơ Tố Hữu giàu tính dân tộc. Phối hợp tài tình ca dao, dân ca các thể thơ dân tộc và “thơ mới”. Vận dụng biến hoá cách nói, cách cảm, cách so sánh ví von rất gần gũi với tâm hồn người. Phong phú vần điệu, câu thơ mượt mà, dễ thuộc dễ ngâm. LƯU QUANG VŨ Các tác phẩm của ông đã để lại một dấu ấn đáng kể trong lòng công chúng Việt Nam. Tác phẩm ông nổi bật lên từ những năm sau chiến tranh, đặc biệt là những năm 80. Ông đã từng sống những năm tháng tuổi trẻ trong chiến tranh, vào bộ đội chiến đấu và trở về sống trong một thời kỳ khó khăn của nước nhà: thời hậu chiến, kinh tế bao cấp với chồng chất khó khăn, cơ cực. Các vở kịch, truyện ngắn, thơ của Lưu Quang Vũ giàu tính hiện thực và nhân văn cũng như in đậm dấu ấn của từng giai đoạn trong cuộc sống của ông. Thơ Lưu Quang Vũ không chỉ bay bổng, tài hoa mà còn giàu cảm xúc, trăn trở, khát khao. Rất nhiều bài thơ của ông được bạn đọc yêu thích như: Và anh tồn tại, Tiếng Việt, Vườn trong phố, Bầy ong trong đêm sâu Ông còn là tác giả của nhiều truyện ngắn mang đậm phong cách riêng. XUÂN QUỲNH Thơ Xuân Quỳnh giàu cảm xúc với những cung bậc khác nhau như chính tính cách
- luôn hết mình của Xuân Quỳnh. Những bài thơ khi hạnh phúc đắm say, lúc đau khổ, suy tư của nhà thơ luôn gần gũi vì được viết với sự đằm thắm của một người phụ nữ vừa làm thơ vừa làm vợ, làm mẹ. Nhiều bài thơ của Xuân Quỳnh đã trở nên nổi tiếng như Thuyền và biển, Sóng, Hoa cỏ may, Tự hát, Nói cùng anh Các bài thơ Sóng, Truyện cổ tích về loài người được đưa vào sách giáo khoa phổ thông của Việt Nam. Nhạc sỹ Phan Huỳnh Điểu đã phổ nhạc rất thành công các bài thơ: Thuyền và biển, Thơ tình cuối mùa thu của Xuân Quỳnh. Thơ Xuân Quỳnh là ting lòng người phụ nữ nhìu suy tư trăn trở, đằm thắm trong khát vọng hạnh phúc bình dị đời thường. CHẾ LAN VIÊN Con đường thơ của Chế Lan Viên "trải qua nhiều biến động, nhiều bước ngoặt với những trăn trở, tìm tòi không ngừng của nhà thơ", thậm chí có một thời gian dài im lặng (1945-1958). Trước Cách mạng tháng 8, thơ Chế Lan Viên là một thế giới đúng nghĩa "trường thơ loạn": "kinh dị, thần bí, bế tắc của thời Điêu tàn với xương, máu, sọ người, với những cảnh đổ nát, với tháp Chàm. Những tháp Chàm "điêu tàn" là một nguồn cảm hứng lớn đáng chú ý của Chế Lan Viên, qua những phế tích đổ nát và không kém phần kinh dị trong thơ Chế Lan Viên, ta thấy ẩn hiện hình bóng của một vương quốc hùng mạnh thời vàng son, cùng với nỗi niềm hoài cổ của nhà thơ. Sau Cách mạng, thơ ông đã "đến với cuộc sống nhân dân và đất nước, thấm nhuần ánh sáng của cách mạng", và có những thay đổi rõ rệt. Trong thời kì 1960- 1975, thơ Chế Lan Viên vươn tới khuynh hướng sử thi hào hùng, chất chính luận, đậm tính thời sự. Sau năm 1975, "thơ Chế Lan Viên dần trở về đời sống thế sự và những trăn trở của cái "tôi" trong sự phức tạp, đa diện và vĩnh hằng của đời sống". Phong cách thơ Chế Lan Viên rất rõ nét và độc đáo, nổi bật nhất là "chất suy tưởng triết lí mang vẻ đẹp trí tuệ và sự đa dạng, phong phú của hình ảnh thơ được sáng tạo bởi một ngòi bút thông minh, tài hoa" XUÂN DIỆU Những bài được yêu thích nhất của Xuân Diệu là thơ tình làm trong khoảng 1936- 1844, thể hiện một triết lý bi quan, tuyệt vọng về tình ái nhưng lại có một mạch ngầm thúc giục, nhiều khi hừng hực sức sống. Nhờ đó, ông cùng với Nguyễn Bính được mệnh danh là "ông Vua thơ tình". Thơ của ông thời kỳ đầu chú trọng về nhạc điệu và từ ngữ nhưng không mất đi cái hồn thơ nồng hậu, bồng bột của tuổi trẻ, tuy nhiên về sau theo cách mạng, thơ ông nghèo nàn hẳn đi và không mấy bài được người ta thuộc . Thơ Xuân Dịu là nguồn
- sống dào dạt chưa từng thấy ở chốn nước non lẵng l l này. Xuân Dịu say đắm tình yêu, say đắm cảnh trời, sông vội vàng cuống quýt, khi vui cũng như khi buồn, người đ nồng nàn tha thít HUY CẬN Huy Cận có thơ đăng báo từ 1936, cho in tập thơ đầu Lửa thiêng năm 1940 (gồm những bài đã đăng báo, khoảng 1936-1940) và trở thành một trong những tên tuổi hàng đầu của phong trào Thơ mới lúc bấy giờ. Bao trùm Lửa Thiêng là một nỗi buồn sầu mênh mang da diết. Thiên nhiên trong tập thơ thường bao la, hiu quạnh, đẹp nhưng thường buồn. Nỗi buồn đó dường như vô cớ, siêu hình nhưng xét đến cùng, chủ yếu là buồn thương về cuộc đời, kiếp người, về quê hương đất nước. Hồn thơ "ảo não", bơ vơ đó vẫn cố tìm được sự hài hòa và mạch sống âm thầm trong tạo vật và cuộc đời. Trong Kinh cầu tự(1942, văn xuôi triết lý( và Vũ trụ ca (thơ đăng báo 1940-1942), Huy Cận đã tìm đến ca ngợi niềm vui, sự sống trong vũ trụ vô biên song vẫn chưa thoát khỏi bế tắc. NGUYỄN TUÂN Tác phẩm Nguyễn Tuân trước Cách mạng tháng Tám chủ yếu xoay quanh ba đề tài: "chủ nghĩa xê dịch", vẻ đẹp "vang bóng một thời", và "đời sống truỵ lạc". Nguyễn Tuân đã tìm đến lí thuyết "chủ nghiã xê dịch" này trong tâm trang bất mãn và bất lực trước thời cuộc. Nhưng viết về "chủ nghĩa xê dịch", Nguyễn Tuân lại có dịp bày tỏ tấm lòng gắn bó tha thiết của ông đối với cảnh sắc và phong vị của đất nước mà ông đã ghi lại được bằng một ngòi bút đầy trìu mến và tài hoa (Một chuyến đi). Không tin tưởng ở hiện tại và tương lai, Nguyễn Tuân đi tìm vẻ đẹp của quá khứ còn "vang bóng một thời". Ông mô tả vẻ đẹp riêng của thời xưa với những phong tục đẹp, những thú tiêu dao hưởng lạc lành mạnh và tao nhã. Tất cả được thể hiện thông qua những con người thuộc lớp người nhà Nho tài hoa bất đắc chí, tuy đã thua cuộc nhưng không chịu làm lành với xã hội thực dân (như Huấn Cao Chữ người tử tù). Nguyễn Tuân cũng hay viết về đề tài đời sống truỵ lạc. Ở những tác phẩm này, người ta thường thấy có một nhân vật "tôi" hoang mang bế tắc. Trong tình trạng khủng hoảng tinh thần ấy, người ta thấy đôi khi vút lên từ cuộc đời nhem nhuốc, phàm tục niềm khao khát một thế giới tinh khiết, thanh cao (Chiếc lư đồng mắt cua). Từ sau Cách mạng tháng Tám 1945, ông chân thành đem ngòi bút phục vụ cuộc chiến đấu của dân tộc, nhưng Nguyễn Tuân luôn luôn có ý thức phục vụ trên
- cương vị của một nhà văn, đồng thời vẫn muốn phát huy cá tính và phong cách độc đáo của mình. Ông đã đóng góp cho nền văn học mới nhiều trang viết sắc sảo và đầy nghệ thuật ca ngợi quê hương đất nước, ca ngợi nhân dân lao động trong chiến đấu và sản xuất. THẠCH LAM Thành công ở thể loại truyện ngắn, văn Thạch Lam thâm trầm sâu sắc, truyện không có cốt tuyện, mỗi tác phẩm như một bài thơ trữ tình đượm buồn. Thạch Lam chú trọng phân tích diễn biến tâm lí nhân vật. Đề bài: Về phong cách nghệ thuật, nhà thơ Lê Đạt đã viết: ''Mỗi công dân có một dạng vân tay Mỗi nhà thơ có một dạng vân chữ Không trộn lẫn.'' Em hiểu những câu thơ trên như thế nào? Hãy chứng minh phong cách nghệ thuật của một số nhà thơ, nhà văn tiêu biểu. Bài làm Một nhà văn Nga từng khẳng định: ”Nghệ sĩ là người biết kai thác những ấn tượng riêng của mình, tìm thấy những ấn tượng có giá trị khái quát và biết làm những ấn tượng ấy có hình thức riêng”. Có lẽ một trong những cái khác biệt để tạo ra khoảng cách nghệ sĩ và người thường chính là ở chỗ đó. Không phải ai cầm bút cũng đều là nghệ sĩ. Các nhà văn cũng vậy. Họ đều có thể viết được thơ, văn nhưng để làm được thơ( văn) đích thực, thơ( văn) có sức sống và có chỗ đứng trong lòng người đọc thì không phải ai cũng làm được. Một nhà sáng tác đích thực có phong cách sáng tạo càng độc đáo, đặc sắc thì người đó càng thành công. Chẳng vậy mà trong bài thơ “Vân chữ”, Lê Đạt từng viết:
- “Mỗi công dân có một dạng vân tay Mỗi nhà thơ có một dạng vân chữ Không trộn lẫn.” Mỗi con người sinh ra đều có một dấu vân tay riêng, mang những đường nét, hình dạng đặc thù, không giống nhau với bất kì ai cho dù đó lag anh chị em đồng sinh. Vân tay là dấu hiệu, cũng là cơ sở chuẩn xác để xác minh danh tính của một công dân, được lưu trữ để xác thực nhân thân, phân biệt với người khác. Với cách nói đầy hình ảnh gợi sự liên hệ tương đồng với “vân tay”, Lê Đạt đã dùng vân chữ để chỉ hình thức sáng tạo ngôn từ độc đáo, hiểu rộng ra là nét riêng, cá tính sáng tạo của một nhà thơ. Đồng thời cũng là để nhấn mạnh đó là yếu tố quan trọng để tạo nên một “người nghệ sĩ thứ thiệt”- một người nghệ sĩ chân chính,có tài năng và có tư chất, có phong cách nghệ thuật riêng biệt không thể trộn lẫn. “Nghệ thuật là lĩnh vực của cái độc đáo, vì vậy nó đòi hỏi người sáng tác phải có phong cách nổi bật, tức là có nét gì đó rất riêng, mới lạ thể hiện trong tác phẩm của mình”. Lĩnh vực của “cái độc đáo”- tức là có tính chất của riêng mình, mang dấu ấn cách tân không giống những người khác- đòi hỏi ở nhà văn không chỉ có khát vọng làm người nghệ sĩ mà có tố chất cần có trước hết ở họ là phải có tài, còn gọi là năng khiếu vượt trội. Thêm nữa, nhà văn phải thỏa mãn nhu cầu của bạn đọc, của cuộc sống- ấy là sự sáng tạo “khơi những nguồn chưa ai khơi”. Chính cái độc đáo ấy tạo nên phong cách nghệ thuật. Một khi tác giả sáng tác văn học tạo được dấu ấn riêng biệt, độc đáo trong quá trình nhận thức và phản ánh cuộc sống, biểu hiện rõ cái độc đáo qua các phương diện nội dung và hình thức của từng tác phẩm, nhà văn đó được gọi là nhà văn có phong cách nghệ thuật. Riêng biệt, mới mẻ và hấp dẫn trong sáng tác, không phải tác giả nào cũng đạt được điều đó, do vậy không phải ai là nhà văn đều có phong cách nghệ thuật. Giai đoạn văn học 1930-1945 là giai đoạn phục hưng của nền văn học dân tộc, một chặng đường ngắn mà hình thành khá nhiều cây bút có phong cách. Dựa vào thành tựu trong sáng tác của các nhà văn, chúng ta đều có thể
- nêu ra các tác giả văn xuôi hiện thực có phong cách rõ rệt là Ngô tất Tố, Nguyễn Công Hoan, Vũ Trọng Phụng, Nam Cao hay các thi sĩ như Xuân Diệu, Hàn Mặc Tử, Huy Cận, Tố Hữu. Vậy, dựa vào những biểu hiện nào để chúng ta có thể xác định một nhà văn( nhà thơ ) có phong cách nghệ thuật? Có nhiều biểu hiện khác nhau của phong cách văn học. Trước hết nhà văn có biểu hiện mới mẻ, độc đáo trong cách nhìn, cách khám phá cuộc sống. Chẳng hạn, cùng là nhà văn hiện thực trước Cách mạng như Ngô Tất Tố, Nguyễn Công Hoan, nhưng Nam Cao quan tâm nhiều đến nỗi khổ đến mức bi kịch của người tri thức. Nam Cao cũng cắt nghĩa được nguyên nhân sâu xa nỗi khổ của họ và lên tiếng đánh động xã hội. “Người nọ, người kia không đáng để ta khinh ghét. Cái đánh nguyền rủa là cái xã hội kia. Nó đã tạo ra những con người tham lam và ích kỷ”( Sống mòn). Phát hiện và phát biểu như vậy là đáng quý, nhưng cái “hơn người” của Nam Cao là luôn băn khoăn về nhân phẩm của con người và ý thức báo động con người hãy giữ lấy nhân phẩm của mình trước những cái nhỏ mọn. đó chính là chiều sâu của cái tâm nhà văn, nó định hướng cách nhìn đời và nhìn người của tác giả. Khác với khoa học, văn chương luôn luôn đề cao sự sáng tao, đề cao cái riêng của người cầm bút, trước hết là cái riêng trong giọng điệu của tác phẩm. Vì vậy, người ta hay nói giọng trào phúng của Vũ Trọng Phụng, giọng triết lý của Nam Cao. Ngay ở Nam Cao cũng có giọng trào phúng, nhưng có người đã chỉ ra rất cụ thể như sau: “So với Nguyễn Công Hoan, Vũ Trọng Phụng thì Nam Cao có nhiều điểm khác biệt. Tiếng cười của Nguyễn Công Hoan, Vũ Trọng Phụng là tiếng cười hướng ngoại, tiếng cười của Nam Cao là tiếng cười hướng nội.” Dấu ấn sáng tạo của tác giả còn bộc lộ ra qua các yếu tố thuộc phương diện nội dung. Chọn lựa đề tài, triển khai cốt truyện, xác định chủ đề, xác lập tứ thơ mỗi nhà văn sáng tạo ra “đất” riêng của mình. Cũng hiện thực tăm tối trước năm 1945, Ngô Tất Tố phát hiện ra “vùng trời tối đen như mực” của người nông dân, trong khi Thạch Lam quan tâm đến những đứa trẻ phố huyện có cuộc sống “ một ngày như mọi ngày”, đến ước mơ cũng không biết ước mơ điều gì.
- Biểu hiện rõ nhất của cá tính sáng tạo làm nên phong cách nghệ thuật của tác giả văn học là ở hệ thống các phương thức nghệ thuật và kỹ thuật trong tác phẩm. Ngệ thuật xây dựng nhân vật, sử dụng ngôn ngữ, tổ chức kết cấu bộc lộ sự “cao tay” của nhà văn. Tài hoa và uyên bác là phong cách của Nguyễn Tuân trong việc vận dụng ngôn ngữ, ở lĩnh vực này thì Vũ Trọng Phụng để lại ấn tượng ở ngôn ngữ nhân vật đạt mức độ cá tính hóa cao nhất. Sáng tạo để làm nên cái riêng, cái mới lạ trong các phương diện trên, song mỗi nhà văn có phong cách phải “thống nhất trong sự đa dạng của sáng tác. Các độc đáo, vẻ riêng phải xuất hiện thường xuyên, lặp đi lặp lại và có tính chất bền vững nhất quán”. Không chỉ có thế, bất cứ sự sáng tạo ra cái độc đáo nào đòi hỏi phải nằm trong tầm đón nhận của độc giả, nghĩa là phải có hiệu quả thẩm mỹ, đem lại sức hấp dẫn bền lâu cho người đọc. Trong sáng tác của Nam Cao trước Cách mạng tháng Tám, người ta đã thống kê được rất rõ ràng, có hai đề tài chính: Người nông dân và người trí thức tiểu tư sản. Trong bối cảnh xã hội đang nảy sinh mâu thuẫn dân tộc và mâu thuẫn giai cấp, xã hội thực dân nửa phong kiến bấy giờ ở nông thôn và thành thị ngày càng bộc lộ những ung nhọt về mặt tư tưởng văn hóa. Nhưng Nam Cao không chú ý phản ánh những vấn đề, những hiện thực lớn lao của xã hội Việt Nam trước Cách mạng tháng Tám năm 1945. Ngay hai đề tài người nông dân và người trí thức, nhà văn cũng chọn những hiện tượng tưởng như nhỏ nhặt đời thường của hai đối tượng để tạo dựng câu chuyện. Nhưng triết lý về đời sống qua các “ tiểu tiết” trong văn xuôi của Nam cao quả là không nhỏ. Nếu như với Ngô Tất Tố- nhà văn nổi tiếng viết về xung đột giai cấp gay gắt và phản ánh bức tranh nông thôn toàn cảnh thì Nam Cao ít hướng đến phạm vi miêu tả rộng như thế. Nhà văn của làng Đại Hoàng này mạnh dạn đi vào “cái hàng ngày” nhưng mang tính phổ biến, cái bản chất. Các đề tài “thu nhỏ” dễ nhận ra ngay ở nhan đề của các truyện ngắn: “Trẻ con không được ăn thịt chó”, “Con mèo”, “ Một đám cưới”, “Một bữa no”, “Từ ngày mẹ chết”, Điều nổi bật ở tài năng Nam cao là “ông đã khai thác được cái chiều sâu,cái mạnh nước ngầm ẩn chứa bên trong và nâng lên một tầm khái quát cao hơn. Ở truyện ngắn của Nam Cao, chúng ta thường thấy hai
- tầng ý nghĩa: một tầng ý nghĩa gắn liền với những tình tiết, sự việc và câu chuyện mà nhà văn muốn trần thuật lại; tầng ý nghĩa thứ hai hai là những đúc kết có tính chất triết lý khái quát”. Quả vậy, tiếp xúc với truyện ngắn “Trẻ em không được ăn thịt chó” độc giả có thể cười về cái triết lý của “hắn”-người bố: Trẻ em không được ăn thịt chó. Nhưng độc giả mục kích cảnh cuối truyện, cái đói khiến mấy đứa trẻ hí hửng đợi người lớn ăn thịt chó, rồi chờ đến lượt bọn chúng, nhưng “ trong mâm chỉ còn bát không. Thằng cu con khóc òa lên ”. Chi tiết nhỏ song gợi ra bao suy nghĩ trong long người đọc. Trước miếng ăn người ta quên cả sĩ diện. Câu chuyện đâu chỉ dừng lại và trọng tâm ở câu chuyện trẻ em không được ăn thịt chó. Phải chăng, cái đói đã khiến con người tìm mọi cơ hội cứu đói, trước hết cho bản thân mình? Qua một bữa ăn, cách ăn, nhà văn đã phác họa một bức tranh của nông thôn Việt Nam: Cái đói, chính cái đói có nguy cơ làm mất đi giá trị con người. Đó là vấn đè tha hóa Ở đề tài trí thức tiểu tư sản, nhà văn cũng phản ánh những câu chuyện vụn vặt, hàng ngày của họ. Nhà văn Hộ mỗi lần nhậu nhẹt với bạn bè lại về nhà đánh vợ, đuổi vợ đi rồi hối hận. Một điệp khúc lặp đi lặp lại trong cuộc sống của văn sĩ Hộ. Đó đâu chỉ là câu chuyện bi kịch của riêng Hộ. Tác giả chỉ ra bi kịch của tầng lớp tri thức trong xã hội thực dân nửa phong kiến. Đó là bi kịch vỡ mộng, đời thừa, sống mòn của những con người có khả năng tự ý thức rất cao. Đó là vấn đề về mối quan hệ giữa cá nhân và xã hội. Qua thế giới hình tượng, nhà văn khéo léo chuyển tải những tuyên ngôn của mình. Điều đáng nói là nhiều thông điệp tiềm ẩn đằng sau câu chuyện, tâm trạng. Trước Nam Cao đãcó không ít nhà văn phát ngôn về văn chương, về hiện thực. Song nhiều nhà nghiên cứu khẳng định rằng Nam Cao đã phát biểu những tuyên ngôn đầy sức thuyết phục, và ý nghĩa hiện đại, thời sự vẫn còn nguyên giá trị cho đến ngày nay. Đọc văn Nguyên Hồng, độc giả cảm nhận được sự đồng cảm sâu sắc,thấm thía của nhà văn dành cho nhân vật. Dường như ta nghe rõ tiếng kêu thống thiết, nước mắt Nguyên Hồng tuôn trào khóc cho bất hạnh của nhân vật. Trái lại, ấn tượng ban đầu của bạn đọc khi tiếp xúc với truyện của Nam Cao, là một giọng lạnh lùng, tỉnh
- táo, sắc lạnh. Nhưng rồi độc giả lại tinh ý nhận ra ẩn sau vẻ ngoài lạnh lùng là tình cảm yêu thương, chất trữ tình ngọt ngào của tác giả cho những đứa con tinh thần của mình. Trước hết, giọng văn sắc lạnh, tỉnh táo xuất phát từ ngôn ngữ người kể chuyện. Có thể nhận xét không chủ quan rằng ngôn ngữ kể chuyện của nhà văn này có màu sắc khách quan lạnh lùng.Theo thống kê của nhà nghiên cứu Trương Thị Nhàn trong bài viết: Nhân vật “hắn” với một nét đặc trưng trong ngôn ngữ nghệ thuật Nam Cao, tác giả đã thống kê có tới 20 truyện của Nam Cao( trong số 55 truyện) các nhân vật được nhà văn gọi là “hắn”. Khi nhà văn gọi nhân vật là “hắn”, thì sắc thái tình cảm không còn là trung tính. Bởi vì, nhà văn đã tạo ra một tư cách “hắn” trong các nhân vật “hắn”. Các nhân vật ấy có gì đó biến dạng tha hóa Một số nhân vật khác, chỉ riêng cách đặt tên đã hiện ra một khoảng cách giữa người kể chuyện và nhân vật. Các tên rất khó nghe như Chí Phèo,Trạch Văn Đoành, Trương Rự, Phải chăng đó là khuynh hướng hiện thực nghiệt ngã trong sáng tác của Nam Cao? Đáng lưu ý là, câu chuyện của tác giả không chỉ kể chuyện, mà còn là kể tâm trạng, và đây lại là đặc điểm nổi trội trong sáng tác của Nam Cao. Chính sự kết hợp giữa kể chuyện và tả tâm trạng, văn Nam Cao đã hình thành phong cách có vẻ đối nghịch giữa hai đặc điểm: Tỉnh táo sắc lạnh và chan chứa trữ tình. Đọc truyện “Chí Phèo”, giọng lạnh lùng khách quan của câu chuyện hiện ra ngay từ đầu tác phẩm. “Hắn vừa đi vừa chửi”. Cuộc đời của nhân vật này có lúc đặt chân vào phần “con” nhiều hơn phần “người”. “ Có lẽ hắn cũng không biết rằng, hắn là con quỷ dữ của làng Vũ Đại, để tác quái cho bao nhiêu dân làng ”. Dọc suốt câu chuyện “Chí Phèo”, dễ thấy một giọng lạnh lùng, một thái độ sắc lạnh, thiếu thiện cảm của người kể chuyện khi kể về nhân vật. Tuy nhiên, sở trường của Nam Cao là kể tâm trạng. Một người “chưa bao giờ tỉnh táo để biết rằng hắn trên đời”, nhưng chiều sâu nội tâm của nhân vật được cây bút tài hoa khám phá và kể tâm trạng thật tinh tế. Đoạn tả Chí Phèo với cảm giác lần đầu nếm hương vị của cháo hành, hương vị của tình yêu, thật chính xác mà đầy chất thơ. Rồi ý nghĩ của Chí nhớ lại những ngày “nhục hơn là thích” ở nhà bà Ba Diễn biến tâm lý Chí Phèo trong một buổi
- sáng nhớ ra mình “có ở trên đời” được tác giả Nam Cao “giải phẫu” thật logic, biện chứng Vẫn cách gọi “hắn”, “thị”, “y” nhưng ẩn đằng sau câu chữ là lời kể, là một sự trân trọng tin yêu đối với nhân vật. Nếu không có niềm tin, không thấu hiểu bản chất người nông dân, làm sao tác giả viết được câu: “Trời ơi! Hắn them lương thiện, hắn muốn làm hòa với mọi người biết bao! Thị Nở sẽ mở đường cho hắn”. Đọc những câu văn như vậỵ, người đọc tinh ý nhận ra ngọn lửa hoàn lương vẫn còn âm ỉ trong tâm hồn con người bị tha hóa cả nhân hình lẫn nhân tính ấy. Tác giả đã khéo léo gợi ra lòng độc giả “cả phần lí trí lẫn phần tình cảm”. Hai đặc điểm đối nghịch, bề ngoài lạnh lùng- bên trong trữ tình trong truyện của Nam Cao còn xuất phát từ lối kể chuyện bằng chất giọng: “nghiêm nghị và hài hước, trân trọng nâng niu,và nhạo, đay, mỉa”. Bạn đọc dễ nhận ra cái giọng mỉa mai, nhạo báng pha hài hước của văn xuôi Nam Cao, song độc giả tinh ý sẽ nhận ra thái độ nghiêm túc, sự tin tưởng vào phần tốt đẹp cảu con người hay khả năng tự nhận thức rất cao của người tri thức. Nếu Thạch Lam đi tìm cái đẹp để khám phá và phát hiện; Vũ Trọng Phụng mổ xẻ đến tận cùng cái ung nhọt đến mức cực đoan; Khái Hưng Nhất Linh nhiều lần thi vị hóa thì Nam Cao thể hiện ngòi bút tỉnh táo, đúng mực. Xuất phát từ nhận thức hiện đại về con người, hướng tới vẻ đẹp nhân văn đích thực của con người, truyện ngắn và truyện dài của Nam Cao mạnh dạn đi vào tận cùng các cực đối lập trong nhân tính, tâm hồn con người. Tạo ra những tình huống, những hoàn cảnh thử thách nhân vật, truyện của Nam cao không ít lần làm người đọc phấp phỏng bởi hoài nghi vào niềm tin của nhà văn này vào con người. Quả vậy, đọc những trang văn trong các tác phẩm như “Chí Phèo”, “Đời Thừa” ta thấy các nhân vật của Nam Cao vận động trượt dốc theo hướng từ con người dần dần đi đến giáp ranh của con vật hay hành trình ngược lại. Đương nhiên trong các nhân vật lưỡng hóa ấy, Chía Phèo là nhân vật tiêu biểu nhất. Trong Chí Phèo có sự vận động ngược và xuôi chiều như vậy. Bởi Chí Phèo đã sống trong môi trường “ là một thế giới chứa đựng hai khả năng dành cho con người”. Xã hội thực dân nửa
- phong kiến mà cụ thể là Bá Kiến và nhà tù thực dân đã biến một anh canh điền hiền lành thành một “con quỷ dữ của làng Vũ Đại”. NamCao đã dung vài nét để phác họa hình hài bản chất “ con” trong con người Chí Phèo: “Hắn biết đâu hắn đã phá biết bao nhiêu cơ nghiệp, đập nát bao nhiêu cảnh yên vui, đạp đổ bao nhiêu hạnh phúc ”. Như vậy, ở Chí Phèo có quá trình lưỡng hóa giữa lương thiện và lưu manh, giữa người và vật. Cần khẳng định rằng, truyện của Nam Cao miêu tả nhân vật giữa tính người và tính vật trở thành biệt tài, thành phong cách của nhà văn này. Không ít nhân vật của Nam Cao bị tha hóa, nhưng quan trọng là cuối cùng nhiều nhân vật của Nam Cao đã thắng thế, chiến thắng cái phàm tục nhỏ nhen, vị kỉ. Câu nói sau đây là phát biểu của Lão Hạc hay chính là quan niệm của Nam Cao: “Đối với những người ở quanh ta, nếu ta không cố tìm mà hiểu họ, thì ta chỉ thấy họ gàn dở, ngu ngốc, bần tiện, xấu xa, bỉ ổi Toàn là những cái vớ vẩn để cho người ta tàn nhẫn ”. Cho nên, dù nhà văn phơi ra trên từng trang viết của mình sự chao đảo giữa tính người và tính vật, nhưng điều quan trọng là Nam Cao đã thể hiện niềm tin lớn lao vào con người và sáng tạo được những tác phẩm mang dấu ấn rõ nét của chủ nghĩa nhân văn hiện đại. Nghiên cứu tác phẩm của Nam Cao, sách “Văn học Việt Nam thế kỷ XX, Phan Cư Đệ” có nhận định thật xác đáng: “Ở truyện ngắn của Nam Cao, chúng ta thường thấy hai tầng ý nghĩa: một tầng ý nghĩa gắn với tình tiết sự việc và câu chuyện mà nhà văn muốn trần thuật lại; và tầng thứ hai là những đúc kết có tính chất khái quát, triết lý”. Thật vậy, gần như truyện nào ta cũng thấy hiện ra những câu triết lý của nhân vật hoặc của người kể chuyện. Nhiều câu triết lý hiện ra qua lời than, các câu cảm thán, như “Chao ôi! Nếu người ta không phải ăn thì giản dị biết bao. Thức ăn không bao giờ tự chảy vào mồm ”. Hay các quan niệm xuất hiện dưới dạng câu hỏi: “Chao ôi, trên đời này có cái gì bền vững mãi đâu?”. Khi nhận thấy những mâu thuẫn trong cuộc sống, nhà văn Nam Cao lên tiếng bằng tiếng nói phẫn uất: “Tại sao ở hiền không phải bao giờ cũng gặp lành?”. Có thể nói, cảm hứng triết lý trở thành cảm hứng nghệ thuật của tác giả làng Đại Hoàng. Từ đó Nam Cao có một giọng đặc trưng: giọng triết lý với đa sắc điệu. Khi thì đắng cay chua chát, lúc lại hài hước dí dỏm. Kết quả của lối triết lý trong sáng

