Đề khảo sát chất lượng (Lần 1) môn Ngữ văn 12 - Trường THPT Lý Thường Kiệt 2020-2021 (Có đáp án)
Bạn đang xem tài liệu "Đề khảo sát chất lượng (Lần 1) môn Ngữ văn 12 - Trường THPT Lý Thường Kiệt 2020-2021 (Có đáp án)", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên.
File đính kèm:
de_khao_sat_chat_luong_lan_1_mon_ngu_van_12_truong_thpt_ly_t.doc
Nội dung tài liệu: Đề khảo sát chất lượng (Lần 1) môn Ngữ văn 12 - Trường THPT Lý Thường Kiệt 2020-2021 (Có đáp án)
- SỞ GD&ĐT BẮC NINH ĐỀ THI KHẢO SÁT CHẤT LƯỢNG LẦN 1 TRƯỜNG THPT LÝ THƯỜNG KIỆT NĂM HỌC 2020 -2021 MÔN: NGỮ VĂN 12. Thời gian làm bài: 120 phút; không kể thời gian phát đề I. ĐỌC HIỂU (3,0 điểm) Đọc bài thơ sau đây và thực hiện các yêu cầu từ 1 đến 4 Hy vọng Nhiều khi đá dạy ta mềm mỏng Sự tàn nhẫn nhắc ta điều lành Nỗi buồn đánh thức hy vọng Giữa thế giới không nhiều may mắn Ta học cách vừa lòng với mình Chia sẻ sự bình tâm của cỏ Mãi khi giữa đêm chợt thức Bập bềnh ý nghĩ xót xa: Anh còn có thể, không thể ? Thăm thẳm ngày xưa bình an Vời vợi ngày mai chói nắng (Thơ Nguyễn Khoa Điềm, Tuyển tập 40 năm do tác giả chọn, NXB Văn học, 2012) 1. Xác định phương thức biểu đạt chính được sử dụng trong bài thơ ? 2. Anh/chị hiểu thế nào về hai câu thơ: “Giữa thế giới không nhiều may mắn - Ta học cách vừa lòng với mình” ? 3. Chỉ ra và nêu hiệu quả của biện pháp tu từ được sử dụng trong ba câu thơ đầu. 4. Theo anh/chị, thông điệp mà nhà thơ muốn gửi gắm qua bài thơ là gì ? II. LÀM VĂN (7,0 điểm) Câu 1 (2,0 điểm) Viết 01 đoạn văn (khoảng 200 chữ) bày tỏ suy nghĩ của anh/chị về quan niệm sống được thể hiện qua hai câu thơ được nêu ở phần Đọc hiểu: “Giữa thế giới không nhiều may mắn - Ta học cách vừa lòng với mình” . Câu 2 (5.0 điểm). Cảm nhận của anh (chị) về 13câu thơ đầu bài thơ “ Vội vàng” của nhà thơ Xuân Diệu. Tôi muốn tắt nắng đi Cho màu đừng nhạt mất; Tôi muốn buộc gió lại Cho hương đừng bay đi.
- Của ong bướm này đây tuần tháng mật; Này đây hoa của đồng nội xanh rì; Này đây lá của cành tơ phơ phất; Của yến anh này đây khúc tình si; Và này đây ánh sáng chớp hàng mi, Mỗi buổi sớm, thần Vui hằng gõ cửa; Tháng giêng ngon như một cặp môi gần; Tôi sung sướng. Nhưng vội vàng một nửa; Tôi không chờ nắng hạ mới hoài xuân. ( Trích: Vội vàng - Xuân Diệu) -HẾT-
- ĐÁP ÁN KHẢO SÁT CHẤT LƯỢNG LẦN 1 I. ĐỌC HIỂU (2,0 điểm) 1. Phương thức biểu đạt chính của bài thơ là biểu cảm. (0,5) 2. Hai câu thơ: “Giữa thế giới không nhiều may mắn - Ta học cách vừa lòng với mình” là sự bày tỏ một thái độ sống, quan niệm sống của tác giả - giữa một thế giới nhiều cạm bẫy, nhiều hiểm họa, không nhiều may mắn, nhà thơ lựa chọn cách sống vừa lòng với mình, trân trọng những gì mình có để sống an nhiên giữa cuộc đời. (0,5) 3. Chỉ ra và nêu hiệu quả của biện pháp tu từ được sử dụng trong ba câu thơ đầu. - Ba câu thơ đầu sử dụng nghệ thuật ẩn dụ và tương phản: đá - mềm mỏng, sự tàn nhẫn - điều lành, nỗi buồn - hy vọng. (0,5) - Hiệu quả: nhấn mạnh tính chất biện chứng, đa diện của cuộc sống. Giữa những sự vật tưởng chừng đối lập nhau lại có mối quan hệ chặt chẽ với nhau, đặc biệt trong những sự vật, hiện tượng tưởng chừng tiêu cực, bi quan lại lóe lên những hi vọng tươi đẹp, lạc quan. Từ đó, tác giả gửi gắm thông điệp về niềm hi vọng trong bài thơ. (0,5) 4. Thông điệp mà nhà thơ muốn gửi gắm qua bài thơ nằm ở chính nhan đề của bài thơ: hi vọng. Dù cuộc đời có đầy chông gai và thử thách, không nhiều may mắn, không dễ dàng, nhưng ngay cả trong những điều tưởng chừng bi quan, tăm tối, thất vọng nhất vẫn có thể tìm thấy niềm hi vọng. Hãy trân trọng quá khứ, trân trọng bản thân với những gì mình đang có ở hiện tại và nuôi giữ niềm hi vọng vào tương lai. (1,0) II. LÀM VĂN (7,0 điểm) Câu 1 (2,0 điểm) Yêu cầu chung: Đảm bảo yêu cầu viết đoạn văn. Thí sinh có thể trình bày theo nhiều cách khác nhau song cần bám sát vào quan niệm sống được thể hiện qua hai câu thơ ở phần Đọc – hiểu, từ đó bày tỏ quan điểm, suy nghĩ của mình về quan điểm sống đó. Yêu cầu về kiến thức: Có thể tham khảo gợi ý sau: a. Nêu ra quan niệm sống được tác giả Nguyễn Khoa Điềm thể hiện trong hai câu thơ:, học cách vừa lòng với chính mình để tìm được sự an nhiên giữa cuộc đời nhiều chông gai, ít may mắn. (0,25 điểm) b. Bình luận về quan niệm sống trên: (1,25 điểm) - Mặt tích cực: (0,5 điểm) + Thái độ sống bình thản, an nhiên là biểu hiện của bản lĩnh con người vững vàng trước sóng gió cuộc đời. Có được thái độ sống đó, con người sẽ bình tĩnh để không a dua theo thời thế, để không bị cám dỗ bởi những phù hoa của xã hội. + Biết gạn lọc những giá trị của đời sống, trân trọng những gì mình đang có; giữa thế giới không nhiều may mắn, ta không trông chờ vào niềm hạnh phúc an nhiên ngoài mình, mà tìm thấy ngay trong bản thân, chủ động trước cuộc đời. - Mặt tiêu cực: (0,5 điểm) + Thái độ sống an nhiên nếu thái quá sẽ thành dửng dưng, sẽ trở nên ích kỉ lạnh lùng. Đó sẽ là nguyên nhân dẫn đến căn bệnh vô cảm. + Học cách vừa lòng với mình không có nghĩa là bằng lòng và dậm chân tại chỗ, nếu như vậy con người sẽ trì trệ, xã hội không phát triển. - Đánh giá: (0,25 điểm)quan niệm sống qua hai câu thơ vừa có mặt tích cực vừa có mặt hạn chế. c. Rút ra bài học (0,25 điểm) - Cần sống có bản lĩnh, biết trân trọng những gì mình có song cũng cần phấn đấu vươn lên để chinh phục thế giới, chinh phục khó khăn thử thách để khẳng định bản lĩnh của mình. Câu 2: ( 5 điểm)
- a) Mở bài:(0,5 điểm) - Giới thiệu tác giả, tác phẩm: + Xuân Diệu là nhà thơ của mùa xuân, tình yêu và tuổi trẻ, một trong những nhà thơ lớn của Việt Nam nổi tiếng từ phong trào Thơ mới. + "Vội vàng" là một trong những bài thơ xuất sắc nhất thể hiện tình yêu cuộc sống tha thiết, quan niệm nhân sinh mới mẻ của Xuân Diệu. - Khái quát nội dung 13 câu đầu Vội vàng : Ước muốn táo bạo cùng tâm trạng hân hoan chào đón nhưng rồi lại vội vàng và cuống quýt trước sự trôi chảy của thời gian. b) Thân bài:(4,0 điểm) * Luận điểm 1: Khao khát lưu giữ vẻ đẹp của thiên nhiên(1,0 điểm) - Trong thơ ca trung đại ít có nhà thơ nào dám khẳng định cái tôi cá nhân của mình một cách táo bạo nhưng khi đến với phong trào Thơ mới, cái tôi Xuân Diệu đã bộc lộ một cách vô cùng độc đáo: “Tôi muốn tắt nắng đi Cho màu đừng nhạt mất; Tôi muốn buộc gió lại Cho hương đừng bay đi.” + Mùa xuân là mùa tươi đẹp nhất trong năm cũng như tuổi trẻ là khoảng thời gian đẹp nhất trong cuộc đời mỗi con người. + Bốn dòng thơ ngũ ngôn như lời đề từ của bài thơ, khẳng định ước muốn đoạt quyền tạo hóa của thi nhân. + Nắng mùa xuân là ánh sáng rực rỡ ấm áp tươi vui, hương mùa xuân là nơi tinh hoa của vạn vật đất trời kết tinh hội tụ. + Hành động “ tắt năng”, “ buộc gió” là những mong muốn dường như không tài nào thực hiện được bởi lẽ nó đi ngược lại với những quy luật vốn có của tự nhiên - Xuân Diệu muốn ngăn cản bước đi của thời gian để lưu giữ những khoảnh khắc đẹp nhất, đáng nhớ nhất. + Thi sĩ khao khát giữ lại ánh nắng để "màu đừng nhạt mất", giữ lại gió để cuộc sống luôn tràn ngập sắc hương. + Điệp cấu trúc "Tôi muốn để", động từ mạnh "tắt", "buộc" cùng với nhịp thơ nhanh, dồn dập, thể hiện khao khát mãnh liệt, hối hả, muốn nhanh chóng không để những vẻ đẹp tạo hóa vụt mất khỏi tầm tay. + Nếu thời gian đi bằng nắng, bằng gió làm nhạt màu, làm phai hương thì nhà thơ muốn níu giữ thời gian ngưng bước, để màu sắc và hương thơm còn mãi với cuộc đời, để giữ mãi thời tươi xuân thì của tạo vật. + Cũng bởi thế, khao khát này cũng thể hiện sự ham sống bồng bột đến mãnh liệt và quan niệm về thời gian của ông: Thời gian tuyến tính một chiều, khi đã trôi qua rồi thì không trở lại nên nhà thơ có khao khát giữ nắng, giữ gió để tận hưởng hết vẻ đẹp của đất trời. => Đó là ước muốn bất tử hóa cái đẹp, giữ cho cái đẹp tỏa sắc lên hương vì đóa hoa hương sắc cuộc đời tươi thắm, ngọt ngào mà mong manh, ngắn ngủi biết bao. Có thể nói đằng sau ước muốn phi lí ấy là một tâm hồn yêu người với thái độ trân trọng, nâng niu và gìn giữ. Luận điểm 2: Bức tranh mùa xuân tuyệt đẹp(1,5 điểm) - Từ thể thơ 4 chữ, nhà thơ chuyển sang những câu thơ 8 chữ, nhịp thơ như trải tỏ ra, chậm rãi, nhẹ nhàng như nhịp tâm hồn thi sĩ đang tận hưởng những tinh hoa của đất trời mùa xuân - Điệp ngữ "này đây" được lặp đi lặp lại 5 lần như một lời mời gọi, kết hợp với thủ pháp liệt kê, vừa diễn tả sự giàu có, phong phú bất tận của thiên nhiên vừa thể hiện cảm giác hân hoan, vui sướng của tác giả. - "Này đây" là sự hiện hữu của hương sắc cuộc đời, của thiên nhiên trần thế, không phải xa xôi mà gần gũi ngay trước mắt, không phải ở tương lai hay quá khứ mà ngay trong hiện tại lúc này. - Điệp từ "của" lặp lại mang tính chất kết nối làm cho bức tranh thiên nhiên tươi đẹp nơi thiên đường trần thế lần lượt hiện ra, lại thêm phần phong phú, giàu có. - Nhà thơ sử dụng một loạt biện pháp tu từ nhân hóa, dùng những danh từ thuộc về con người ( tuần tháng mật, khúc tình si) để miêu tả thiên nhiên, kết hợp với “ong bướm”, “ yến anh” được gọi tên như đôi lứa khiến cho vườn xuân bỗng đầy mộng mơ, lãng mạn, vườn xuân cũng là vườn tình yêu, vườn ái ân hạnh phúc. Tính từ “xanh rì”, “ phơ phất” giàu sức gợi tả vẽ nên cảnh thiên nhiên mùa xuân non tơ tràn đầy sức sống.
- => Bức tranh xuân không chỉ có cảnh vật đẹp tươi mà còn tràn đầy ánh sáng và niềm vui. Hình ảnh “ ánh sáng chớp hàng mi” và “ thần vui” vô cùng gợi cảm. Với Xuân Diệu mỗi ngày được chiêm ngưỡng ánh dương, được tận hưởng sắc hương của vạn vật là một ngày hân hoan vui sướng. - Thiên nhiên tạo vật say sưa, rộn ràng, mê mải trao gửi sắc hương, xui khiến lòng người ngất ngây tận hưởng, để thi nhân tạo hóa thành tình nhân: "Tháng Giêng non như một cặp môi gần" + Câu thơ sử dụng nghệ thuật ẩn chuyển đổi cảm giác, hay chính là phép giao thoa mà thơ Mới tiếp thu được từ thơ ca tượng trưng Pháp + Đây là câu thơ mới mẻ nhất, hiện đại nhất, đã khái quát được sự hấp dẫn của mùa xuân bằng sự so sánh vô cùng độc đáo. Nhà thơ cảm thụ thiên nhiên bằng tình lứa đôi, bằng thể xác và tâm hồn. - Sự hấp dẫn của thiên nhiên hiện ra trong vẻ đẹp của người tình với "cặp môi gần" căng tràn tươi trẻ, mê đắm và quyến rũ. + Từ "ngon" được thốt lên đầy khát khao, và đam mê, là sự cảm nhận sâu nhất bằng mọi giác quan + Phép so sánh như đã đưa cặp môi của người thiếu nữ trở thành trung tâm của vũ trụ, con người trở thành chuẩn mực cho cái đẹp, là thước đo vẻ đẹp của tạo hóa. + "Tháng giêng" là một khái niệm thời gian vốn vô hình, nhưng trong phép so sánh vừa táo bạo vừa mang sắc thái biểu cảm ấy đã trở nên trẻ trung hữu hình qua vẻ đẹp cặp môi gần của người thiếu nữ. => Nhà thơ đã thể hiện quan niệm của mình một cách thật sâu sắc: Nếu trong thơ ca Trung đại, các thi nhân lấy thiên nhiên để làm chuẩn mực cho cái đẹp của con người thì đến với Xuân Diệu, con người mới là chuẩn mực cho mọi cái đẹp tồn tại trên cuộc đời này, và thiên đường không phải là những chốn thiên thai xa xôi, huyễn hoặc nào đó, mà chính là nơi đây, chính mặt đất trần thế mới là thiên đường của tình yêu, của cái đẹp và của tuổi trẻ. Luận điểm 3: Tâm trạng của thi sĩ(1,0 điểm) - Ngay lúc chàng thi sĩ trẻ đang ngất ngây mê đắm vô cùng trong niềm tận hưởng mật ngọt tình yêu nơi thiên đường trần thế, đang thỏa thuê với bữa tiệc lớn của trần gian và reo lên "tôi sung sướng" thì cũng chính là lúc thi nhân ngừng lặng với cảm giác "vội vàng một nửa". - Câu thơ bị ngắt làm hai, niềm vui không trọn vẹn. Bởi Xuân Diệu nhận ra rằng điều sung sướng ấy ngắn ngủi biết bao. Dự cảm mơ hồ về sự mong manh, ngắn ngủi của kiếp người đã khiến cho thi nhân sống vội vàng tận hưởng. => Hai câu thơ được xem như hai cái bản lề khép mở tâm trạng vừa vồ vập đắm say vẻ đẹp của cuộc sống tình yêu vừa là linh cảm bất an, băn khoăn âu sầu của nhà thơ vì thời gian qua mau, tuổi trẻ một đi không trở lại, quả thật Xuân Diệu là nhà thơ của những cảm quan tinh tế về thời gian. * Nghệ thuật:(0,5 điểm) Đoạn thơ để lại dấu ấn nghệ thuật sâu sắc. Thể thơ tự do, sử dụng nhiều điệp từ, điệp ngữ, so sánh, ẩn dụ, dấu chấm giữa dòng thơ ngôn ngữ thơ chọn lọc gợi hình gợi cảm. Tất cả tạo nên một đoạn thơ hay mang đạm phong cách thơ Xuân Diệu c) Kết bài: (0,5 điểm) - Khái quát lại nội dung 13 câu thơ đầu Vội vàng. - Nêu cảm nhận của em. MA TRẬN ĐỀ THI KHẢO SÁT CHẤT LƯỢNG LẦN 1, NĂM HỌC 2020-2021. MÔN: NGỮ VĂN 12. Mức độ Vận dụng Nhận biết Thông hiểu Cộng Cấp độ thấp Cấp độ cao
- Chủ đề + Nhận biết - Hiểu được - Rút ra bài học được những quan điểm của cuộc sống từ văn điều tác giả đã tác giả thể hiện bản. Phần 1: Đọc hiểu văn bản nêu trong đề. trong văn bản. - Trình bày suy nghĩ của bản thân về vấn đề đặt ra trong văn bản 1 câu: 3 điểm = 30% 1,5 điểm 1,0 điểm 0,5 điểm 3,0 điểm Tích hợp kiến thức, Hiểu được ý kĩ năng đã học để Phần 2: Làm văn Vấn đề cần nghĩa của câu viết một đoạn văn a. Về một vấn đề xã hội nghị luận nói nghị luận về vấn đề xã hội 1 câu: 2 điểm =20% 1,0 điểm 0,5 điểm 0,5 điểm. 2,0 điểm. b.Nghị luận văn học, thuộc Cấu trúc bài Kết cấu bài Tích hợp kiến thức, tác phẩm: “ Vội vàng”. văn cảm nhận. văn, lập ý cho kĩ năng đã học để Bài văn hấp dẫn Hiểu được nội bài văn làm một bài văn và có sức thuyết dung và nghệ thuyết minh phục cao. thuật của đoạn thơ 1 câu: 5 điểm = 50% 2,5 điểm 0,5 điểm 1,0 điểm. 1,0 điểm. 5 điểm. Tổng điểm 5,0 điểm 50% 2,0 điểm 2,0 điểm 1,0 điểm 10,0điểm Tỉ lệ 20% 20% 10% 100%

