Ôn tập TN THPT môn Ngữ văn 12 - Chuyên đề: Vận dụng lí luận vào câu nghị Luận văn học
Bạn đang xem tài liệu "Ôn tập TN THPT môn Ngữ văn 12 - Chuyên đề: Vận dụng lí luận vào câu nghị Luận văn học", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên.
File đính kèm:
on_tap_tn_thpt_mon_ngu_van_12_chuyen_de_van_dung_li_luan_vao.docx
Nội dung tài liệu: Ôn tập TN THPT môn Ngữ văn 12 - Chuyên đề: Vận dụng lí luận vào câu nghị Luận văn học
- SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO CHUYÊN ĐỀ ÔN TẬP TẠO KỲ THI TỐT NGHIỆP BẮC NINH THPT NĂM 2023 ¯¯¯¯¯¯¯¯¯ Môn: Ngữ văn ¯¯¯¯¯¯¯¯ TÊN CHUYÊN ĐỀ: VẬN DỤNG LÍ LUẬN VÀO CÂU NLVH Người biên soạn: Lương Thị Thìn Đơn vị công tác:THPT Yên Phong số 1 I. LÍ THUYẾT 1.Sự cần thiết của việc đưa lí luận vào câu nghị luận văn học Để hoạt động ôn tập cho học sinh khá giỏi có hiệu quả, đạt kết quả cao trong kì thi TNTHPTQG đối với bộ môn Văn, ngoài việc trang bị kiến thức tác phẩm, rèn luyện kỹ năng làm bài thì việc hiểu trúng, vận dụng linh hoạt kiến thức lý luận văn học là một trong những năng lực cần được hình thành cho học sinh. Trước hết, lý luận văn học giúp bài NLVH có chiều sâu. Bởi lẽ trong quá trình học Văn, nhất là khi làm bài, trong nhận thức của học sinh còn hiện tượng hay hiểu sai hoặc nhầm lẫn các khái niệm, thuật ngữ chuyên môn. Quan trọng hơn, điều đó dẫn đến học sinh chưa giải quyết được một cách chính xác, đầy đủ các nội dung theo yêu cầu đề bài, hoặc viết còn rất sơ sài, mơ hồ, chung chung Việc trang bị thêm kiến thức lý luận văn học giúp học sinh khắc phục được những nhược điểm đó. Đối với đối tượng là học sinh khá giỏi, được trang bị kiến thức lý luận văn học giúp học sinh có những bình giá, nhận xét chuẩn xác hơn về một hiện tượng văn học nào đó; bài viết của các em trở nên sâu sắc hơn về ý tưởng, chặt chẽ hơn về lập luận, thuyết phục hơn khi đưa ra luận cứ. 2. Những kiến thức lý luận văn học học sinh cần nắm Để đưa kiến thức LLVH vào NLVH, học sinh cần được trang bị những kiến thức cốt lõi như: Đặc trưng văn học, chức năng văn học, phong cách nghệ thuật, tiếp nhận văn học, thơ và đặc trưng ngôn ngữ thơ, sức phản ánh của thơ những thuật ngữ lý luận văn học. Mỗi thể loại văn học đều mang những đặc trưng riêng. Chúng ta có thể vận dụng linh hoạt kiến thức đặc trưng thể loại văn học: Thơ, tiểu thuyết, truyện ngắn, kịch .để nhấn mạnh giá trị của tác phẩm. Những kiến thức này đã được học trong chương trình THPT ở các bài lí luận văn học, giáo viên có thể ôn tập lại cho học sinh một cách cơ bản nhất. Kiến thức lí luận văn học thể hiện ở ngay trong những thuật ngữ đề yêu cầu ta làm rõ. “Giá trị nhân đạo” , “chất thơ”, “phong cách sáng tác” đều là những thuật ngữ lí luận văn học Để giải quyết được các đề ở trên, ta phải nắm được khái niệm của các thuật ngữ, các biểu hiện của chúng và biết cách phân tích các biểu hiện ấy trong tác phẩm văn học. 3. Yêu cầu đề theo cấu trúc đề minh họa của bộ GD Câu NLVH theo cấu trúc đề minh họa của bộ GD thường gặp hai yêu cầu: Yêu cầu chính: Phân tích các yếu tố cơ bản trong một đoạn trích tác phẩm văn học Ví dụ: Phân tích diễn biến tâm lý và hành động của nhân vật người vợ nhặt một đoạn trích trong truyện ngắn Vợ Nhặt của Kim Lân.
- Yêu cầu phụ: Qua việc phân tích các yếu tố trong tác phẩm văn học để làm rõ một đặc điểm nào đó. Ví dụ: Phân tích diễn biến tâm lý và hành động của nhân vật người vợ nhặt trong một đoạn trích. Từ đó nhận xét về tấm lòng của nhà văn Kim Lân đối với người nông dân Ở cả hai yêu cầu trên, ta đều có thể vận dụng kiến thức lí luận văn học. Nhưng dù là dạng yêu cầu nào thì học sinh cũng nên ý thức rằng, việc vận dụng một tỉ lệ kiến thức lý luận nhất định, phù hợp sẽ giúp cho bài viết sẽ được khơi sâu hơn, hiệu quả hơn. II.Vận dụng Để làm câu NLVH của học sinh sâu sắc, mới mẻ hơn, dựa vào nội dung yêu cầu đề có thể đưa kiến thức lí luận vào các phần của bài làm 1. Áp dụng vào mở bài 1.1 Mở bài cảm nhận nhân vật trong văn xuôi: Ví dụ: Cảm nhận hình tượng nhân vật Tràng trong truyện ngắn “Vợ Nhặt” của nhà văn Kim Lân chúng ta sẽ đi từ kiến thức lí luận về giá trị của văn học Một tác phẩm văn học chỉ thực sự có giá trị khi nó cất lên tiếng nói của con người, ca ngợi và bảo vệ con người. Bởi thế Nam Cao từng nói: “ Nghệ thuật không cần phải là ánh trăng lừa dối, không nên là ánh trăng lừa dối; nghệ thuật có thể chỉ là tiếng đau khổ kia thoát ra từ những kiếp sống lầm than” (Trăng Sáng). Văn chương là vậy, nó vẫn luôn đẹp một cách đặc biệt nhất. Phải chăng chính vì thế mà các nhà thơ, nhà văn luôn tạo ra những nét riêng cho mình bằng việc xây dựng lên những hình tượng nhân vật độc đáo chở nặng tâm tư của tác giả. Điều đó được thể hiện rõ qua nhân vật Tràng trong tác phẩm “Vợ Nhặt” của nhà văn Kim Lân. Sự tinh tế, độc đáo trong nghệ thuật xây dựng hình tượng nhân vật của nhà văn Kim Lân đã góp phần chắp cánh cho tác phẩm vút bay trên bầu trời văn đàn dân tộc 1.2 Mở bài cảm nhận nhân vật trữ tình trong thơ: Ví dụ: "Nhà thơ xứ Daghestan - Raxun Gamzatov đã từng viết với lòng biết ơn "Thơ ca nếu không có người tôi đã mồ côi". Thơ ca đã ra đời và song hành với nhân loại, như một phương tiện đắc lực và đầy xúc cảm, giúp con người bày tỏ nỗi niềm và đi sâu khám phá thế giới nội tâm sâu kín, bí hiểm. Tôi chợt nhớ thi sĩ Xuân Quỳnh và bồi hồi hình dung nhà thơ ấy sẽ cô đơn biết bao nếu không thể trao gửi tâm tình vào nghệ thuật. Bài thơ "Sóng" là tất cả nỗi niềm của nội tâm sâu kín ấy. Là sóng biển, sóng lòng mà người con gái miền La Khê đã tha thiết gửi trao trong từng dòng, từng chữ Viết MB như trên thì tránh đi việc nêu ra thơ ca về tình yêu đơn thuần rồi mới đi vào tác phẩm. 2. Áp dụng vào luận điểm phần thân bài 2.1. Sử dụng lí luận để nêu hoàn cảnh ra đời Trước khi phân tích tác phẩm theo yêu cầu của đề bài có thể sử dụng lí luận để nêu hoàn cảnh ra đời một cách uyển chuyển, logic. Ví dụ : khi viết Tô Hoài lên Tây Bắc rồi có cảm hứng viết "Vợ chồng A Phủ" thì lí luận văn học sẽ dẫn dắt một cách thật tự nhiên: Mỗi tác phẩm nghệ thuật phải thực sự là "tiếng sáo thổi lòng thời đại, thành giao liên dẫn dắt đưa đường". Dường như ý thức rõ về điều này, nhà văn Tô Hoài trong những ngày tháng sống ở Tây Bắc đã viết nên "Vợ chồng A Phủ". Áng văn là "tiếng sáo", là "giao
- liên" dẫn ta tới hiện thực cuộc sống lặng im Tây Bắc và cho chúng ta thấy những khát khao đẹp đẽ về tự do và hạnh phúc của con người. 2.2 Sử dụng lí luận để phân tích văn bản theo yêu cầu của đề bài: Khi phân tích tác phẩm theo yêu cầu của đề bài cũng có thể sử dụng kiến thức lí luận. Trong thân bài thì chú ý các đoạn phân tích câu thơ, câu văn đều dùng lí luận văn học để bài tự nhiên hơn và đưa ra mở rộng hợp lí hơn. Với tác phẩm văn xuôi: chú ý những yếu tố như: tình huống truyện; không gian, thời gian nghệ thuật; kết cấu; chi tiết, vai trò của chi tiết trong truyện ngắn, giá trị nhân đạo, chất thơ để bài viết có chiều sâu và phong phú hơn. Ví dụ : Nguyễn Tuân từng muốn mỗi ngày đều có "cái say của rượu tân hôn", kì vọng mỗi trang đời là một trang nghệ thuật. Luôn luôn đổi mới cảm giác, nhận thức cũng như phương châm cảm thụ cái đẹp, ông coi đời là những “trang hoa” luôn mở dưới ánh sáng nghệ thuật mới. Và chuyến đi Tây Bắc của nhà văn sau Cách mạng là một "trang hoa" như thế. Để từ đây vẻ đẹp thiên nhiên và con người được mở ra " dưới ánh sáng nghệ thuật" của "Người lái đò Sông Đà" (diễn tiếp để vào phân tích) Với tác phẩm văn thơ: chú ý những yếu tố như : đặc trưng về ngôn ngữ, giọng điệu hình ảnh tư tưởng tình cảm Ví dụ : Khi phân tích đoạn thơ của Việt Bắc "Những đường Việt Bắc của ta ". Khi phân tích nhạc tính của nó xong thì viết thêm "Đọc những dòng thơ ấy tôi thấy bồi hồi xao xuyến và nhớ lại sinh thời Huy Cận ngợi ca: "Yêu thơ thơ kể lại hồn ông cha Đời bao tâm sự thiết tha Nằm trong tiếng nói lòng ta thuở nào" Ví dụ : câu đầu bài thơ “Tây Tiến”, áp dụng lí luận chúng ta sẽ viết: Nhà thơ Puskin từng nói rằng: “Thơ được tạo ra từ cơn động kinh của tâm hồn. Đó là cú đại địa chấn được dồn ứ từ những biến cố, những kỉ niệm, có khi là nỗi nhớ quặn lòng.” Và phải chăng khi “kỉ niệm” và “cảm xúc” đã đong đầy trong nỗi nhớ cũng là lúc mà hồn thơ Quang Dũng bật lên những trang viết thiết tha: Sông Mã xa rồi Tây Tiến ơi Nhớ về rừng núi, nhớ chơi vơi 2.3 Áp dụng vào luận điểm phần đánh giá: Ta có thể sử dụng lí luận khi nâng cao khẳng định bình luận vấn đề. Có thể viết về sinh mệnh văn chương, sức sống trường tồn của nó hay tài năng của nhà văn nhà thơ Ví dụ: Nếu như tương lai của một nhà văn được đánh giá qua văn học anh ta để lại như lời của Albert Camus thì tôi nghĩ Nguyễn Minh Châu có thể tự hào về những gì mà ông đã để lại cho đời. Trang sách của Nguyễn Minh Châu đã làm đúng công việc của một kẻ sĩ " nâng giấc cho những người cùng đường tuyệt lộ", làm đúng công việc của một kẻ sĩ luôn " quan hoài thường trực cho số phận con người". Chiếc thuyền ngoài xa sẽ tồn tại trong dòng văn học như một chân giá trị để cảnh tỉnh con người về cuộc đời đa sự, và giữ cho chúng ta một cách tiếp cận đời sống sâu sắc Kiến thức lí luận văn học sử dụng chủ yếu ở phần tổng kết để so sánh, đối chiếu, nâng cao vấn đề.
- Ví dụ: Khi phân tích nhân vật Tràng (trong truyện ngắn Vợ Nhặt ), ta có thể so sánh đối chiếu với hình tượng nhân vật người nông dân trong văn học hiện thực trước CMT8 để thấy sự kế thừa và phát triển của nhà văn Kim Lân trong truyền thống về đề tài người nông dân. Bằng các kiến thức lí luận văn học về trào lưu văn học, về quá trình phản ánh hiện thực và sự sáng tạo của người nghệ sĩ, ta có thể lí giải phần so sánh, đối chiếu, qua đó làm cho bài viết sâu sắc hơn. 3. Áp dụng vào kết bài: 3.1 Áp dụng kiến thức lí luận vào kết bài về văn xuôi từ một ý kiến: Ví dụ : M. Gor- ki từng nói: “Chi tiết nhỏ làm nên nhà văn lớn” Kim Lân quả xứng đáng là một nhà văn lớn của nền văn học Việt Nam, khi chỉ từ những chi tiết nhỏ bé mà sâu sắc ông đã đặt cả một tài năng và tấm lòng nhân đạo của mình vào đó. Cùng với đó thành công của truyện ngắn “ Vợ nhặt” còn phải kể đến việc Kim Lân đã gây ấn tượng mạnh với độc giarbawngf lối kể chuyện lôi cuốn, ngôn từ giản dị phù hợp với mọi lứa tuổi. Có lẽ vì thế cho đến nay, Vợ nhặt vẫn để lại dư âm khó phai mờ trong lòng người đọc của nhiều thế hệ. 3.2 Áp dụng kiến thức lí luận vào kết bài về thơ từ một ý kiến: Ví dụ: Tố Hữu từng quan niệm: “ Một bài thơ hay là bài thơ đọc lên không còn thấy câu thơ mà chỉ còn thấy tình người và tôi muốn thơ phải thật là gan ruột”, điều đó được chứng minh qua Việt Bắc. ở đó Tố Hữu không viết thơ mà dùng gan ruột của mình để kí thác một chặng đường lịch sử vẻ vang của dân tộc. Khép lại chặng đường dài gian khổ ấy là kỉ niệm, là tình nghĩa là sự “ kết tinh hạt mầm cho đời sau hái trái”. Qua đây chúng ta thêm tự hào về thế hệ cha anh, về tinh thần chiến đấu hào hùng, về những chiến công “ lừng lẫy năm châu” chấn động địa cầu của dân tộc Việt Nam 3.3 Áp dụng kiến thức lí luận vào kết bài về văn xuôi từ phong cách tác giả Trong bài điếu văn đọc tại lễ truy điệu của Nguyễn Tuân, Nguyễn Đình Thi đã nhận định: “Nguyễn Tuân là người suốt đời đi tìm cái đẹp”. Vì thế mà qua “Người lái đò Sông Đà” có thể nhìn thấy hình ảnh con người với vẻ đẹp trí tài, trí dũng, với tay lái ra hoa trên dòng Đà giang “hung bạo, trữ tình”. Dường như, vẻ đẹp ấy kết tinh đậm nét phong cách tài hoa, uyên bác, con mắt quan sát tinh tế, trái tim đầy nhiệt huyết với nghệ thuật và tài năng văn học thiên phú của Nguyễn Tuân. Ông xứng đáng được tôn vinh là “người săn tìm và sáng tạo cái đẹp”, góp phần làm cho nền văn học dân tộc thêm giàu đẹp! 4. Một số mẫu đưa kiến thức lí luận vào NLVH: Ngôn ngữ thơ: Ngôn từ là tinh hoa quý giá nhất của người làm thơ. Người làm thơ cũng như kẻ làm vườn vậy, phải chăm chút sao cho vườn hoa ngôn ngữ của mình nở ra những bông hoa đẹp nhất. Thế mới có ý kiến: “Làm thơ là cân một nghìn milligram quặng chữ”. Với ý niệm ấy chữ (chữ muốn phân tích) xứng đáng là nhãn tự của câu thơ, là tinh hoa của cả câu thơ này. Nhà thơ dùng chữ để gợi ra Tính nhạc trong thơ: Bàn về tính nhạc trong thơ tác giả Trần Thiện Thanh cho rằng: “Thi nhân phổ nhạc cho thơ, tiếng thơ vang ngân trong không gian, tạo thành các “bước sóng” gõ cửa tâm hồn đọc giả. Ở đoạn thơ trên nhà thơ đã vô cùng khéo léo, linh hoạt trong cách ngắt nhịp thơ đan xen khiến người cảm thấy mình đang đứng trước một khúc nhạc chứ không chỉ đứng trước một bài thơ đơn thuần.
- Tiếp nhận văn học: Nếu như tương lai của một nhà văn được đánh giá qua văn học anh ta để lại như lời của Albert Camus thì tôi nghĩ . có thể tự hào về những gì mà ông đã để lại cho đời. Trang sách của đã làm đúng công việc của một kẻ sĩ " nâng giấc cho những người cùng đường tuyệt lộ", làm đúng công việc của một kẻ sĩ luôn " quan hoài thường trực cho số phận con người". Tác phẩm sẽ tồn tại trong dòng văn học như một chân giá trị để cảnh tỉnh con người về cuộc đời đa sự, và giữ cho chúng ta một cách tiếp cận đời sống sâu sắc Giá trị văn học : Bêlinxki quan niệm: “Tác phẩm nghệ thuật sẽ chết nếu nó miêu tả cuộc sống chỉ để miêu tả, nếu nó không phải là tiếng thét khổ đau hay lời ca tụng hân hoan, nếu nó không đặt ra những câu hỏi hoặc trả lời những câu hỏi đó”. Mỗi tác phẩm như một nấc thang nâng đỡ bước chân người đọc đi đến phần người, đi đến những giá trị chân – thiện – mĩ của cuộc sống. như một làn gió mang tới cho tâm hồn con người thứ mát lành của triết lí sống đáng quý. Gấp lại trang sách mà ngọn gió ấy vẫn không ngừng thổi muôn đời. Tư chất người nghệ sĩ: Tác phẩm văn học chỉ có giá trị khi đó là tiếng lòng của người nghệ sĩ, là nơi kí thác những nỗi niềm tâm sự, sự trăn trở, suy tư, những nỗi đau, bi kịch của nhân sinh, từ đó nhân danh con người mà đấu tranh với những thế lực xấu xa, đen tối để bảo vệ quyền sống của con người. Thử hỏi nếu không có sự gắn bó tình cảm đặc biệt đối với , liệu có thể viết nên thiên truyện lấp lánh tình người như vậy? Mối quan hệ giữa văn học và đời sống: Hiện thực đời sống bao giờ cũng là nguồn cảm hứng mênh mông, bất tận của tâm hồn nghệ sĩ. Bất kì một sáng tác nghệ thuật nào nếu không bén rễ vào cuộc đời, không hút nguồn sống dạt dào chảy trong lòng cuộc sống thì nó sẽ không thể tồn tại trong thế giới khắc nghiệt của văn chương nghệ thuật. Là nhà văn chân chính, ngòi bút của đã chấm vào nghiên mực cuộc đời thì tác phẩm của mới neo chặt trong tâm hồn của người thưởng thức đến như vậy.% III/ BÀI TẬP Đề 1: “Ngay lúc ấy, chiếc thuyền đâm thẳng vào trước chỗ tôi đứng. Một người đàn ông và một người đàn bà rời chiếc thuyền tôi đã vứt chiếc máy ảnh xuống đất và chạy nhào tới” Phân tích đoạn trích trên. Từ đó, nhân xét quan điểm nghệ thuật của nhà văn Nguyễn Minh Châu Bài làm đưa kiến thức llvh vào các phần: MB- TB MB Trong bài “Nghĩ về nghề, nghĩ về thơ, nghĩ ”, nhà thơ Chế Lan Viên đã viết: “Đi ra, lấy cuộc đời dân làm cuộc đời mình Cơn nắng, cơn mưa làm điều suy nghĩ Một tiếng chim gù cũng đến nơi rừng lạ để mà nghe” Những vần thơ là lời trăn trở, suy nghĩ về mối quan hệ giữa văn học nghệ thuật với đời sống. Văn chương của người nghệ sĩ sẽ có gì nếu nó không mang dáng dấp cuộc đời? Có chăng chỉ là những dòng chữ rời rạc bị bẻ vụn mà thôi? Cuộc sống không cần văn nghệ làm một tên hề đồng lóc cóc chạy theo sau cố bắt chước cho thật đúng. Người đọc hay người xem đòi hỏi ở các tác phẩm văn học nghệ thuật, không những là một bức tranh giống sự thực, không những là các tài liệu ghi lại thực tế đời sống, mà còn những gì khác nữa, làm cho người ta say mê và xúc động,
- làm cho người ta suy nghĩ và tự mình rút ra những nhận xét đánh giá về lối sống. Nghệ thuật phải bám sát cuộc đời, gắn bó với đời sống của nhân dân lao động. Là một nhà văn dám và đặt ngòi bút đi sâu vào đời sống con người, Nguyễn Minh Châu đã viết lên một câu chuyện đậm chất hiện thực trong tác phẩm “Chiếc thuyền ngoài xa” từ đó nhà văn đã đặt ra nhưng vấn đề có ý nghĩa triết lí và nhân sinh sâu sắc. Đoạn trích “Ngay lúc ấy, chiếc thuyền đâm thẳng vào trước chỗ tôi đứng. Một người đàn ông và một người đàn bà rời chiếc thuyền tôi đã vứt chiếc máy ảnh xuống đất và chạy nhào tới” đã diễn tả cảnh bạo lực gia đình - sự thật tàn nhẫn trong góc khuất cuộc sống của những con người nghèo khổ. Từ đó, ta thấy được quan điểm nghệ thuật của nhà văn Nguyễn Minh Châu. TB Nguyễn Minh Châu (1930-1989) là “người mở đường tài năng và tinh anh” (Nguyên Ngọc) của văn học Việt Nam hiện đại. Ông là nhà văn có tình yêu thương tha thiết với con người, mang một mối quan hoài thường trực về số phận và những nỗi đau khổ của con người xung quanh mình. Nhà văn muốn dùng ngòi bút của mình tham gia trợ lực cho con người trong cuộc đấu tranh giữa cái thiện và cái ác, đồng thời luôn đặt niềm tin vào con người, ở khả năng thức tỉnh và hướng thiện mỗi con người Chiếc thuyền ngoài xa thuộc kiểu truyện tư tưởng được viết vào năm 1983, in trong tập truyện Người đàn bà trên chuyến tàu tốc hành (1983) sau đó in lại trong tập truyện cùng tên năm 1987. Đây là tác phẩm đặc sắc cho những sáng tác sau năm 1975 của Nguyễn Minh Châu khi nhà văn chuyển sang cảm hứng thế sự - đời tư thể hiện mối quan hoài thường trực của nhà văn “những suy nghĩ da diết về chân lí nghệ thuật và đời sống”. Sự thật nghiệt ngã được mô tả trong Chiếc thuyền ngoài xa đã xua tan làn khói lãng mạn phủ lên hình ảnh từ lâu trở nên quen thuộc về một ngư phủ dưới cánh buồm mờ ảo ban mai lên trên không gian xa rộng của biển cả. “Tác phẩm chứa đựng cái ý nghĩa rộng lớn, sâu xa: nó khiến người ta giật mình nếu quen nghĩ rằng cuộc đời đã hết đau thương, nó khơi ngợi người cầm bút nên nhìn kĩ vào những gì ẩn sau vẻ đẹp điền viên bề ngoài để nhớ tới trách nhiệm của người nghệ sĩ trước cuộc sống, trước con người”. (Lã Nguyên) Theo yêu cầu của trưởng phòng, nghệ sĩ nhiếp ảnh Phùng đến một vùng ven biển miền Trung – nơi anh đã từng chiến đấu để chụp một tấm ảnh thuyền biển, bổ sung cho cuốn lịch năm mới. Sau nhiều ngày “phục kích”, Phùng đã chụp được một bức ảnh tuyệt đẹp về chiếc thuyền ngoài xa trên biển sớm mờ sương. Nhưng khi chiếc thuyền vào gần bờ, anh kinh ngạc chứng kiến cảnh bạo lực gia đình. Nghịch lý cuộc đời bắt đầu từ đây, khi chiếc thuyền tiến gần vào bờ, hình ảnh một cặp vợ chồng đang rời thuyền, “họ lội qua một quãng bờ phá, nước ngập tới tận đầu gối”. Trong giây lát tiếng người đàn ông cất lên văng vẳng quát tháo những đứa con đang ở trên thuyền. Chính khuôn mặt nét người của họ đã nói lên phần nào cái cuộc sống khổ cực mà họ phải chịu. Người vợ "trạc ngoài 40", "mặt rỗ", "thân hình cao lớn thô kệch", "lưng áo bạc phếch", "gương mặt lộ rõ sự mệt mỏi sau một đêm thức trắng kéo lưới" dường như bao nhiêu sương gió nắng mưa của đất trời đã chiếu thẳng vào người đàn bà ấy vậy. Còn người đàn ông thì cũng chẳng hơn gì: "có tấm lưng rộng", đi chân chữ bát khuôn mặt "độc, dữ". Hiện thân của sự lam lũ, nghèo đói, vất vả trước cuộc sống mưa sinh. Bên cạnh sự thua thiệt về nhan sắc, cộng thêm gánh nặng trước cuộc sống mưu sinh khiến cho người đàn bà càng trở nên xấu xí hơn. Tác giả Nguyễn Minh Châu đã dùng từ ngữ cực tả như: thô kệch, tái ngắt, bạc phếch, ướt sũngđã diễn tả được trọn vẹn diện mạo của người đàn bà. Đối với chị, được một giấc ngủ ngon lành cũng là điều quá xa xỉ, đây chính là hiện thân tiêu biểu của những người dân chài nhọc nhằn trước gánh nặng áo cơm. Người đàn ông tấm lưng rộng và cong như lưng một chiếc thuyền. Mái tóc tổ quạ. Lão đi chân chữ bát, hàng lông mày cháy nắng rủ xuống hai con mắt đầy vẻ độc dữ lúc nào cũng nhìn dán vào tấm lưng áo bạc phếch. Chỉ bằng vài nét vẽ, người đàn ông được khắc họa như là hiện thân của gánh nặng cuộc đời đã kéo còng tấm lưng. Cả hai người đều là hiện thân của sự nhọc nhằn, nghèo khó của người dân hàng chài. Nếu ai đã từng đọc “Đời thừa” của Nam Cao thì sẽ
- thấy, Hộ là người chồng tốt, là nhà văn chân chính, nhưng cũng vì gánh nặng gia đình, gánh nặng “cơm, áo, gạo, tiền” mà đã trở thành thủ phạm của bạo lực gia đình trong những lúc say sưa để giải quyết bế tắc trong sự nghiệp và cuộc đời. Hay như trong chính “Chiếc thuyền ngoài xa”, nguyên nhân chủ yếu khiến người đàn bà hàng chài đó bị đánh là vì cứ mỗi khi khổ quá, anh chồng lại lôi chị ra đánh. Cuộc đời lam lũ nghèo khổ, nheo nhóc, sự tối tăm ngu dốt là một trong những nguyên nhân gây ra nạn bạo lực đối với phụ nữ và trẻ em trong một số gia đình Việt Nam lâu nay? Phải chăng Nguyễn Minh Châu đã kín đáo nói về một căn nguyên đầy nước mắt mà thi hào Nguyễn Du đã viết trong "Văn chiêu hồn" hơn hai thế kỉ trước: "Đau đớn thay phận đàn bà, Kiếp sinh ra thế biết là tại đâu?" Rõ ràng, hoàn cảnh và điều kiện sống cũng là một nguyên nhân dẫn đến bạo lực gia đình, đó là còn chưa kể tới những hệ lụy của nó. Một cảnh tượng diễn ra khiến cho nghệ sĩ Phùng không thể nào tin vào mắt mình và cái cảnh đẹp kia bỗng chốc biến thành một hình ảnh vô cùng thậm tệ. Hai con người khổ sở ấy đi vào phía bãi xe tăng hỏng: Hình ảnh chiếc xe tăng hỏng tượng trưng cho chiến tranh đã kết thúc, đã đi qua con người cứ nghĩ sẽ được sống trong hạnh phúc, sung sướng. Nhưng không, chiến tranh đã đi qua nhưng con người ta phải bước vào cuộc chiến đấu mới: chiến đấu chống lại đói nghèo, chống lại bạo lực gđ, đây là cuộc chiến rất cam go, ác liệt, và thật bất ngờ trước cảnh tượng ấy: “Lão đàn ông lập tức hùng hổ, mặt đỏ gay, lão rút trong người chiếc lưng của lính ngụy ngày xưa; chẳng nói chẳng rằng lão trút cơn giận như lửa cháy bằng cách dùng chiếc thắt lưng quật tới tấp vào lưng người đàn bà, vừa đánh vừa thở hồng hộc, hai hàm nghiến răng ken két, giọng điệu rên rỉ, đau đớn: Mày chết hết đi cho ông nhờ, chúng mày chết hết đi cho ông nhờ” Cách đánh thật man rợ. Cường độ và tốc độ đánh đạt đến “đỉnh điểm” của sự giận dữ, căm thù và đau đớn. Diễn tả điều này, “Nguyễn Minh Châu đã trút bỏ hết trang sức của ngôn từ” (Bùi Minh Đức) để thay vào đó là những từ ngữ cực tả “như lửa cháy” “quật tới tấp” “thở hồng hộc” “nghiên răng ken két” mới diễn tả được đày đủ, chính xác cảnh tượng kinh hoàng này. Chồng đánh vợ bằng tất cả sự căm thù, tức giận, bằng tất cả sức mạnh của cơ bắp và tinh thần, đánh thậm tệ, dã man như đánh kẻ thù số 1. Thật thậm tệ, dã man và đớn đau biết chừng nào! Chứng kiến cảnh tượng này mấy ai đã cầm được lòng mình. Quả thực như Tô Hoài viết “viết văn là quá trình đấu tranh để nói ra sự thật. Đã là sự thật thì không hề tầm thường chút nào”. Sự thật mà nhà văn Nguyễn Minh Châu phản ánh thật chân thực, chính xác được viết ra từ “những điều trông thấy mà đau đớn lòng” của một nhà văn có “mối quan hoài thường trực về số phận con người” (Nguyễn Văn Long). Nỗi đau xót của người đàn bà hàng chài làm cho trái tim Phùng rớm máu. Mỗi nhát quất vào lưng người đàn bà cũng làm tan nát trái tim độc giả. Sức mạnh của ngôn từ đâu phải đến từ lời trần ngôn sáo ngữ mà nó nhiều khi được chiết suốt từ những trái tim đang đau đáu trước những nỗi đau của cuộc đời. Với cảnh tượng bị bạo hành dã man ấy, người đàn bà mang nỗi đau về thể xác. Mặc dù vậy người đàn bà không chống trả, không van xin, không chạy trốn. Khi Thúy Kiều bị Tú Bà tra tấn đã phải thốt lên trong đau đớn: “Thịt da ai cũng là người Lòng nào hồng rụng thắm rời chẳng đau” Người đàn bà cũng vậy, mụ đâu phải là mình đồng da sắt, là con người bình thường ai mà không đau được chứ! Thế mà mụ lặng câm chấp nhận đòn roi của chồng như người đi biển chấp nhận sóng gió vì con. Quả thực, những điều diễn ra là sự tận cùng bạo lực gia đình. Mối quan hệ gia đình, vốn là một mối quan hệ rất thiêng liêng, cao đẹp nhưng giờ đây đã bị phá vỡ bởi những hành động bạo lực chồng chất, dã man. Giờ đây thay thế vào cho mối quan hệ thiêng liêng kia là ngon lửa của lòng hận thù. Thật đau đớn, chua xót biết chứng nào. Con người thật tội nghiệp, nhỏ bé trước cuộc sống mưu sinh, trước cảnh sống nghèo đói. Cơm áo gạo tiền đã khiến những người trí thức bị “ghì sát đất,” để sống đời thừa như những thanh sắt bị hoen ghỉ ra giữa cuộc đời, để họ cứ chết dần, chết mòn, chết khi đang còn sống. Đó là thực trạng đau xót được nhà văn Nam Cao phản ánh chân thực trong những trang viết của ông về đề tài người trí thức nghèo.
- Cũng vì cái đói, Lão Hạc trong truyện ngắn cùng tên của Nam Cao phải ăn bả chó để bảo toàn mảnh đất thiêng cho người con trai. Đó là những con người sống trong chế độ cũ, xã hội nửa thực dân phong kiến phi nhân đạo. Đau đớn thay, nỗi đau về cơm áo gạo tiền còn kéo dài sang tận chế độ mới, khi hòa bình đã lập lại, đất nước đã thống nhất nhưng cái đói vẫn là mối đe dọa đến cuộc đời của nhiều người dân trong những năm 80 của thế kỷ XX. Cái nghèo đói đang mang đến nguy cơ phá hủy những mối quan hệ vốn thiêng liêng và tưởng chừng rất bền chặt. Đặt ra vấn đề này, Nguyễn Minh Châu đã làm thay đổi bao mắt nhìn, óc nghĩ của mọi người về cuộc đời, về thân phận của con người bằng tất cả tấm lòng nhân đạo sâu sắc, thấm thía và cảm động. Như vậy, chiếc thuyền vào gần bờ đã có kết quả hoàn toàn trái ngược với vẻ đẹp của sự toàn bích, toàn thiện; giờ đây là sự hiện thân của cái xấu, cái ác, cái phi đạo đức. Hình ảnh chiếc thuyền ở gần là hiện thân của cuộc sống lam lũ, nhọc nhằn với đói nghèo và bạo lực. Người nghệ sĩ Phùng như cay đắng nhận thấy những cái ngang trái, bi kịch trong gia đình thuyền chài kia đã là thứ thuốc rửa quái đản làm những thước phim huyền diệu của cái máy ảnh mà anh dày công sáng tạo nghệ thuật bổng hiện hình một sự thật cuộc sống sót xa. Phùng kinh ngạc đứng há hốc mồm, vứt máy ảnh định nhảy vào can thiệp. Thiên chức của người nghệ sĩ không chỉ khám phá, rung động trước cái đẹp mà phải đứng lên chống lại cái ác, cái xấu xa. Khát vọng giải phóng người đàn bà khỏi đòn roi luôn tồn tại trong lòng Phùng Chính việc chứng kiến cảnh bạo lực gia đình đã làm thay đổi quan điểm, cách nhìn cuộc đời của Phùng về nghệ thuật và cuộc đời. Đây cũng là một tình huống mới để câu chuyện phát triển sang một hướng khác. Với hai phát hiện ấy Phùng chợt nhận ra rằng cuộc đời không đơn giản một chiều mà chứa nhiều nghịch lý ngang trái, mâu thuẫn. Cuộc sống luôn tồn tại những mặt đối lập, đẹp và xấu thiện và ác. Ở đây nhà văn khẳng định, cùng một chiếc thuyền nhưng ở hai thời điểm, hai khoảng cách lại cho kết quả hoàn toàn trái ngược nhau. Cuộc đời luôn chứa đựng nghịch lí oái oăm. Cuộc sống luôn tồn tại những mặt đối lập, những mâu thuẫn giữa đẹp –xấu, ác – thiện. Đừng nhầm lẫn giữa hiện tượng và bản chất, giữa hình thức và nội dung không phải bao giờ cũng trùng khít nhau. Đừng vội đánh giá con người, sự vật qua hình thức bên ngoài. Nguyễn Minh Châu đã lên tiếng dõng dạc cần phải bước vào cuộc chiến chống lại cái ác, bạo tàn, xấu xa. Thành công đầu tiên của tác phẩm phải kể đến việc tác giả đã tạo ra một tình huống nhận thức mang ý nghĩa khám phá, phát hiện về cuộc sống. Sự chứng kiến cảnh người đàn ông đánh vợ là một sự kiện tạo ra bước ngoặt nhận thức và tình cảm, cảm xúc của nhân vật Phùng. Ngôn ngữ kể chuyện rất sinh động, hấp dẫn, tác giả đã chọn ngôi kể thứ nhất, nghệ sĩ nhiếp ảnh Phùng, giúp cho điểm nhìn trần thuật sắc sảo, lời kể trở nên khách quan, chân thực và giàu tính thuyết phục. Ngôn ngữ nhân vật rất phù hợp với đặc điểm tính cách của từng nhân vật. Xây dựng đối thoại sinh động hấp dẫn. việc sử dụng ngôn ngữ rất linh hoạt, sáng tạo như thế, tác giả đã khắc sâu chủ đề- tư tưởng cho tác phẩm. Nghệ thuật miêu tả tâm lí nhân vật rất tinh tế, sắc sảo tạo nên một tác phẩm rất đặc sắc giàu sức ám ảnh. Quả thực, mọi dòng sông đều đổ về biển rộng, cũng như mọi khám phá sáng tạo đều có đích hướng về, những vấn đề thuộc về con người, nhân sinh, nhân bản. Bởi lẽ, con người là một trung tâm của văn học nghệ thuật. Văn học có thể viết về mọi vấn đề của đời sống, mọi hình thức sáng tạo, nhưng đều hướng tới để đặt ra và cắt nghĩa những vấn đề của nhân sinh. Văn học chân chính phải là thứ văn chương vị đời, nhà văn chân chính phải là nhà văn vì con ngươi, phẩm mới đạt tới tầm nhân bản. Muốn vậy “Nhà văn chân chính là phải nhân đạo từ trong cốt tủy” (Sê – Khốp). Chính vì thế, văn học phải hướng tới cuộc sống, phải khơi gợi được những tình cảm nhân văn cao đẹp, đánh thức được lòng trắc ẩn đang ngủ sâu trong trái tim mỗi người đọc. Văn chương phải giúp ta người hơn. Từ những điều trên, ta có thể khẳng định nhà văn Nguyễn Minh Châu đã hoàn thành sứ mệnh của một nhà văn chân chính khi tạo ra những trang viết chan chứa giá trị nhân đạo.
- KB Nói tóm lại, đoạn văn đã thể hiện rất chân thành, sâu sắc những phát hiện của nghệ sĩ nhiếp ảnh Phùng, từ đó, tác phẩm đặt ra bao vấn đề có ý nghĩa nhân sinh sâu sắc. Từ câu chuyện về một bức ảnh nghệ thuật và sự thật cuộc đời sau bức ảnh, Chiếc thuyền ngoài xa đã đặt ra bao vấn đề có ý nghĩa triết lí và nhân sinh sâu sắc. Từ đây, ta nhận ra một điều: chuyện cách nhìn đời, nhìn người như thế nào chưa bao giờ là đơn giản dễ dàng. Phải chăng chỉ có tấm lòng nhân ái, trái tim mang mối quan hoài thường trực về số phận con người mới giúp con người có cái nhìn sâu sắc, đúng đắn hơn? Cuộc đời cần lắm những ánh mắt, những điểm nhìn như vậy. Đề 2: Trong Việt Bắc, nhà thơ Tố Hữu viết: "Ta về, mình có nhớ ta Ta về, ta nhớ những hoa cùng người. Rừng xanh hoa chuối đỏ tươi Đèo cao nắng ánh dao gài thắt lưng. Ngày xuân mơ nở trắng rừng Nhớ người đan nón chuốt từng sợi giang. Ve kêu rừng phách đổ vàng Nhớ cô em gái hái măng một mình Rừng thu trăng rọi hoà bình Nhớ ai tiếng hát ân tình thuỷ chung." (Ngữ văn 12, Tập một, NXB Giáo Dục Việt Nam, 2020, tr. 111) Anh/Chị hãy phân tích đoạn trích trên; từ đó, nhận xét về lẽ sống ân nghĩa được thể hiện trong đoạn trích. Bài làm đưa kiến thức llvh vào các phần: MB- TB -KB MB "Ngọn gió thơ băng qua rừng, băng qua biển để tìm ra giọng nói cho riêng mình". Nghệ thuật là lĩnh vực của cái độc đáo, nó không chấp nhận sự sao chép mô phỏng bởi "bình thường là cái chết của nghệ thuật". Mỗi người nghệ sĩ phải tạo ra cho mình một lối đi riêng không lặp lại người khác và không lặp lại chính mình. Có như vậy, tác phẩm mới đủ sức neo đậu trong trái tim người đọc, và người nghệ sĩ mới đủ sức chạm khắc tên mình vào dòng chảy bất tận của thời gian. Vì lẽ ấy, Tố Hữu luôn dành cho mình một vị trí rất riêng trên thi đàn với những khám phá độc đáo trong quá trình sáng tạo nghệ thuật. Bài thơ "Việt Bắc" chính là minh chứng tiêu biểu, chính nhờ những xúc cảm trong tâm hồn đã tạo ra những rung động mạnh mẽ, mãnh liệt trong cảm xúc Tố Hữu để rồi "Việt Bắc" nở hoa trên trang giấy, hóa thành lòng mạch sâu trong tâm khảm để nhớ để thương. Hẳn khi đọc "Việt Bắc", người đọc không thể nào thôi say đắm trước bức tranh tứ bình, đoạn thơ được coi là tuyệt bút của tác phẩm, tập trung khắc họa bức tranh tứ bình về cảnh và và người Việt Bắc. Một câu nói về thiên nhiên lại đến một câu nói về con người, cứ thế hòa quyện gắn bó khăng khít. Có thể thấy thi sĩ tạo hình theo lối xây dựng bộ tranh tứ bình - một hình thức rất phổ biến của nghệ thuật cổ điển. Mà qua đó, thi nhân cũng gửi gắm lẽ sống ân nghĩa cao cả trong thi phẩm này: "Ta về, mình có nhớ ta Ta về, ta nhớ những hoa cùng người. Rừng xanh hoa chuối đỏ tươi Đèo cao nắng ánh dao gài thắt lưng. Ngày xuân mơ nở trắng rừng Nhớ người đan nón chuốt từng sợi giang. Ve kêu rừng phách đổ vàng Nhớ cô em gái hái măng một mình Rừng thu trăng rọi hoà bình

