Ôn tập TN THPT môn Ngữ văn - Chuyên đề: Cách làm dàn bài - Trường THPT Nguyễn Đăng Đạo

docx 36 trang Nguyệt Quế 07/01/2026 100
Bạn đang xem 30 trang mẫu của tài liệu "Ôn tập TN THPT môn Ngữ văn - Chuyên đề: Cách làm dàn bài - Trường THPT Nguyễn Đăng Đạo", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên.

File đính kèm:

  • docxon_tap_tn_thpt_mon_ngu_van_chuyen_de_cach_lam_dan_bai_truong.docx

Nội dung tài liệu: Ôn tập TN THPT môn Ngữ văn - Chuyên đề: Cách làm dàn bài - Trường THPT Nguyễn Đăng Đạo

  1. 1 SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO CHUYÊN ĐỀ ÔN TẬPKỲ THI TỐT BẮC NINH NGHIỆP THPT NĂM 2023 ¯¯¯¯¯¯¯¯¯ Môn: Ngữ văn ¯¯¯¯¯¯¯¯ CHUYÊN ĐỀ 7: CÁCH LÀM DÀN BÀI (3 ĐỐI TƯỢNG HỌC SINH) Người biên soạn: Trần Thị Điển, Nguyễn Ngọc Hân, Chu Thị Sinh Đơn vị công tác: Trường THPT Nguyễn Đăng Đạo I. LÝ THUYẾT. 1.Kiểu bài nghị luận văn học. - Nghị luận là văn học là một trong những nội dung quan trọng của môn Ngữ Văn nói chung và phân môn tập làm văn nói riêng. - Bản chất của việc viết bài văn nghị luận văn học là người viết thường vận dụng các thao tác lập luận : giải thích, chứng minh, phân tích, bình luận để trình bày một cách logic, chặt chẽ, hấp dẫn, thuyết phục về một vấn đề văn học. - Đối tượng của kiểu bài này rất đa dạng: Có thể là giá trị nội dung và nghệ thuật của đoạn trích nói chung, có thể chỉ là một phương diện, thậm chí một khía cạnh nội dung hay nghệ thuật của đoạn trích đó. - Yêu cầu của bài văn nghị luận về một đoạn trích trong tác phẩm văn học: Ngoài yêu cầu chung của một bài văn nghị luận: bố cục bài viết rõ ràng; trình bày ý khoa học; hành văn có cảm xúc, linh hoạt; dẫn chứng phải chính xác Bài văn nghị luận về một đoạn trích trong tác phẩm văn học cũng có những yêu cầu riêng: + Phải phân biệt được nghị luận về một đoạn trích và nghị luận về một tác phẩm. Nghĩa là tránh việc đề cập tới tất cả các nội dung của tác phẩm còn nội dung của đoạn trích lại sơ lược. +Tập trung vào đoạn trích nhưng phải biết vận dụng kiến thức của toàn tác phẩm như nội dung tư tưởng,nghệ thuật. Nhất thiết phải đặt đoạn trích trong chỉnh thể của tác phẩm mới có cách đánh giá chính xác. 2. Các bước làm bài: Bước 1: Phân tích đề – xác định các yêu cầu của đề: – Xác định dạng đề – Yêu cầu nội dung (đối tượng) – Yêu cầu vê phương pháp – Yêu cầu phạm vi tư liệu, dẫn chứng. Học sinh cần đọc kĩ đoạn trích; xác định được yêu cầu của đề; triển khai luận điểm, luận cứ phù hợp; biết vận dụng các thao tác nghị luận để viết bài văn. Bước 2: Lập dàn ý – tìm ý, sắp xếp ý: Theo bố cục ba phần
  2. 2 – Mở bài: + Giới thiệu khái quát về tác giả, tác phẩm, đoạn trích cần nghị luận. + Giới thiệu vấn đề nghị luận – Thân bài: Phân tích những giá trị nội dung, nghệ thuật tác phẩm, đoạn trích để làm rõ vấn đề cần nghị luận hoặc một số khía cạnh đặc sắc nhất của đoạn trích. – Kết bài: Đánh giá chung về tác phẩm, đoạn trích. Bước 3: Viết bài. Dựa theo dàn bài đã xây dựng, viết thành bài văn hoàn chỉnh. Chú ý viết đoạn văn phải thể hiện được nổi bật luận điểm và chứng minh bằng những luận cứ rõ ràng. Các đoạn phải có liên kết, chuyển tiếp nhau. Bước 4: Kiểm tra, chỉnh sửa (nếu có) 3. Cách làm dàn bài cho ba đối tượng học sinh. 3.1. Yêu cầu đối với ba đối tượng học sinh: - Giỏi, khá: Hướng dẫn các em lập dàn ý chi tiết đảm bảo các nội dung theo yêu cầu của đề bài, có sử dụng kiến thức lý luận văn học và liên hệ mở rộng để bài viết có chiều sâu. - Trung bình: Hướng dẫn các em lập dàn ý chi tiết đảm bảo các nội dung theo yêu cầu của đề bài, triển khai các luận điểm cơ bản. - Yếu: Hướng dẫn các em lập dàn ý chi tiết đảm bảo các nội dung theo yêu cầu của đề bài một cách ngắn gọn. 3.2. Cách làm dàn bài cho ba đối tượng học sinh. 3.2.1. Đối với học sinh Khá/ Giỏi a. Hướng dẫn HS nắm vững kiến thức cơ bản của tác phẩm Kiến thức cơ bản của tác phẩm gồm những đơn vị nào ? - Xuất xứ - Hoàn cảnh + Tìm hiểu hoàn cảnh là một khâu không thể bỏ qua trong quá trình tìm hiểu tác phẩm. + Khi tìm hiểu, GV nên gắn với tác phẩm để HS thấy mối quan hệ giữa hoàn cảnh và tác phẩm ấy. Tránh tình trạng nêu hoàn cảnh một cách ơ hờ, nêu cho có. Để làm được điều này, GV phải chú ý tích hợp với kiến thức lịch sử, xã hội, đặc biệt là kiến thức văn học sử. Ví dụ: Khi học Chiếc thuyền ngoài xa, GV phải cho HS thấy được tác phẩm ra đời những năm 80, đất nước trở lại hòa bình, cuộc sống xã hội có nhiều thay đổi nên văn học cũng có bước chuyển mình mạnh mẽ từ đề tài, cảm hứng, nhận thức hiện thực, quan niệm con người Tác phẩm là minh chứng đầy nghệ thuật cho cuộc chuyển mình đó của văn học. - Chủ đề + Chủ đề là vấn đề cơ bản được đặt ra qua hình tượng
  3. 3 + Cho HS hiểu được chủ đề chính là hiểu được tư tưởng của tác phẩm đó. Tuy nhiên, xác định chủ đề không dễ. HS thường ỷ lại vào phần ghi nhớ, nhớ một cách máy móc, nô lệ. Do đó, GV phải hướng dẫn để HS nắm được chủ đề. + Cách xác định chủ đề: Hướng dẫn HS trả lời câu hỏi (Với truyện: Truyện kể về cái gì và đằng sau câu chuyện ấy, nhà văn muốn nói điều gì ?; với thơ: Cảm xúc chủ đạo của bài thơ?). - Đặc sắc nghệ thuật: Tích hợp với kiến thức Lý luận văn học lớp 11 (Thể loại văn học – SGK cơ bản; Đọc thơ – SGK nâng cao), GV trang bị cho HS các yếu tố nghệ thuật của một tác phẩm văn xuôi tự sự thường bao gồm: cách xây dựng cốt truyện, tình huống, cách khắc họa tính cách và tâm lý nhân vật, điểm nhìn trần thuật, ngôn ngữ ; Các yếu tố nghệ thuật của thơ gồm: thể thơ, ngôn ngữ, hình ảnh, giọng điệu HS lấy đó làm căn cứ để xác định nghệ thuật từng tác phẩm. - Dẫn chứng: GV hướng dẫn HS cách nhớ và cách sử dụng dẫn chứng: chỉ những dẫn chứng nào cần phân tích cả câu mới phải thuộc câu, còn lại chỉ cần nhớ một số từ khoá để việc học đỡ nặng nề và việc viết được linh hoạt. Vì sao phải hướng dẫn HS nắm kiến thức cơ bản? - Về lý luận: đặt vấn đề nghị luận trong tổng thể tác phẩm, tránh tình trạng thấy cây mà chẳng thấy rừng; là bột để gột nên hồ - bài văn - Về thực tế: + đảm bảo yêu cầu của một bài làm văn (phần giới thiệu VĐ, đáp án đề thi phần này thường cho 0,5 điểm; phục vụ đắc lực cho phần triển khai và trả lời câu hỏi phân hoá theo dạng đề 2021). + Nắm được giá trị tác phẩm, nhớ được dẫn chứng là yếu tố tiên quyết để việc viết có tâm thế chủ động, diễn đạt sinh động, ấn tượng. Ví dụ: Khi giới thiệu về cuộc nhân duyên kì lạ của nhân vật Tràng, nếu chỉ nắm sơ sơ, ta dễ dàng viết như sau: Tràng gặp người vợ nhặt rất tình cờ, chóng vánh. Nhưng nếu nắm vững, nhớ cả dẫn chứng, ta có thể viết như sau: Chuyện nhân duyên của Tràng với người vợ nhặt thật chóng vánh, tình cờ: hai lần gặp gỡ, mấy câu tầm phơ tầm phào và 4 bát bánh đúc mà nên vợ thành chồng. Rõ ràng, cùng một thông tin nhưng hai cách viết khác hẳn nhau về hiệu quả, đó là kết quả của việc nắm TP vững vàng. Chuyện tưởng xưa nhưng không bao giờ cũ! b. Hướng dẫn HS nắm kiến thức LLVH b.1. Vai trò: LLVH là khoa học về VH. Do đó, nắm vững mảng KT này, không chỉ giúp các em Đọc hiểu TP mà còn làm cho việc tạo lập VB có hiệu quả: có tính khoa học, có sự chững chạc, có tầm nhất định. b.2. Vốn liếng đã được trao: LLVH đã được trang bị tương đối đầy đủ trong CTTHPT + Lớp 10: Văn bản văn học (Đặc trưng VH); Nhà văn và quá trình sáng tạo; +Lớp 11: Đặc trưng các thể loại VH (Thơ, truyện – Tập 1; Kịch, kí, VNL – Tập 2)
  4. 4 + Lớp 12: Các giá trị VH; Tiếp nhận VH; Phong cách VH. b.3. Cách học - Nắm những vấn đề hết sức cơ bản Ví dụ: + Đặc trưng VH, chỉ cần hiểu: VH phản ánh con người và đời sống trong sự đa dạng, phong phú, phức tạp; VH lấy hình tượng làm phương thức phản ánh, lấy ngôn ngữ làm phương tiện; lấy việc thể hiện tư tưởng, tình cảm của người viết làm mục đích. Hình tượng và ngôn ngữ VH bao giờ cũng đa nghĩa đa tầng. Đó là cơ sở để khi phân tích ngôn ngữ, hình tượng, bao giờ cũng chú ý nghĩa biểu tượng thì bài mới có độ sâu. + Thể loại VH: Thơ (tình cảm cảm xúc; ngôn ngữ, hình ảnh, thể thơ ); Truyện (cốt truyện, nhân vật là linh hồn, chi tiết là hạt bụi vàng, ngôn ngữ, điểm nhìn trần thuật, ngôi kể, giọng điệu ) - Mỗi vấn đề LLVH, nên có một vài ý kiến minh hoạ để vận dụng vào bài viết VD: Về Phong cách VH, có thể lấy câu thơ Lê Đạt, ý kiến của Macel Prouxt ngay trong SGK c. Cho HS nắm thang điểm cho từng phần của bài thi a. Đảm bảo cấu trúc bài văn nghị luận: mở bài giới thiệu được vấn đề, 0,25 thân bài triển khai được vấn đề, kết bài khái quát được vấn đề. b. Xác định đúng vấn đề cần nghị luận 0,5 c. Triển khai vấn đề nghị luận: HS vận dụng hợp lí các thao tác lập luậnđể triển khai và đánh giá vấn đề. *Giới thiệu khái quát tác giả, tác phẩm,đoạn trích 0,25 *Cảm nhận/phân tích 2,75 * Nhận xét /nêu/so sánh/liên hệ 0,5 d. Chính tả, dùng từ, đặt câu: đảm bảo đúng chính tả, ngữ pháp và ngữ 0,25 nghĩa tiếng Việt. e. Sáng tạo: có cách diễn đạt mới mẻ, thể hiện suy nghĩ sâu sắc về vấn đề 0,5 nghị luận. d. Cách thức d.1. Cách mở bài - Nguyên tắc: ngắn gọn, đầy đủ + Ngắn gọn: nên dừng ở mức 3- 5 câu + Đầy đủ: Dạng đề như đề tham khảo năm nay, có hai yêu cầu. Khi mở bài, cần giới thiệu cả 2 yêu cầu. Nếu chỉ chú ý vào yêu cầu 1 (cơ bản) mà phớt lờ yêu cầu 2(phân hoá) là thiếu, MB chưa đạt, ảnh hưởng yêu cầu 1 trong thang điểm. + Các yếu tố tác giả, tác phẩm, nội dung nghị luận cần giới thiệu ở MB phải hiểu đó là các đơn vị KT cần đảm bảo. Tuyệt nhiên không phải là trình tự cần tuân
  5. 5 theo. Hiểu điều này, MB ít nhất sẽ tránh được mòn sáo: Tô Hoài là ; Nguyễn Tuân là ; Tố Hữu là - Cách thức: Có rất nhiều cách MB. Xin giới thiệu với các em hai cách dễ vận dụng. Và chú ý là nên bắt đầu từ nội dung NL. + MB bằng tương liên: Nêu một ý/hình ảnh giống như vấn đề cần NL rồi bắt vào vấn đề đó. Cách MB này có ưu thế là có hình ảnh, dễ gây ấn tượng nhưng đòi hỏi người viết cần sẵn sàng sức liên tưởng. VD: MB cho đề Phân tích chi tiết tiếng sáo trong VCAP (Tô Hoài). Nhận xét/nêu vai trò chi tiết trong tác phẩm tự sự. Có thể MB như sau: Một sợi tóc, một lóng móng tay, khoa học có thể xác định quan hệ huyết thống để ta thấy được sự bền vững của giống dòng và sự thiêng liêng nguồn cội; áp vỏ ốc biển vào tai, ta có thể nghe cả đại dương sóng vỗ. Mới hay, cái nhỏ bé ở đời nhiều khi lại chứa bao điều to lớn. Chi tiết trong TP tự sự cũng vậy. Đến với chi tiết tiếng sáo trong VCAP của TH, ta sẽ có dịp hiểu thêm về chi tiết và vai trò của nó. +MB bằng đối lập: Nêu một ý trái ngược với nội dung NL cần bàn rồi bắt vào vấn đề NL. VD: MB cho đề trên, có thể viết như sau: Người ta hay bị choáng ngợp bởi những thiên sử thi đồ sộ mấy nghìn trang, mấy trăm nhân vật. Người ta cũng dễ bị hấp dẫn bởi những hình tượng chói loà, kì vĩ mang vóc tầm vũ trụ. Còn tôi, đọc truyện, tôi lại hay bị ấn tượng bởi những chi tiết bé nhỏ như mảy “bụi vàng” mà góp phần không nhỏ làm nên “bông hồng vàng” tác phẩm (Pauxtopxki). Tôi muốn nói đến một chi tiết như thế. Chi tiết tiếng sáo trong VCAP của Tô Hoài. Hai cách MB nêu trên cũng chính là vận dụng LLVH về đặc trưng thể loại tự sự, đó là chi tiết và vai trò của nó. d.2. Cách viết thân bài d.2.1. Cách gọi ý/luận điểm - Ý phải rõ ràng, chính xác, sát hợp với vấn đề NL. Đó là thước đo của tư duy người viết, phẩm chất khoa học của bài viết. Ví dụ: Gọi ý cho đề Phân tích nhân vật bà cụ Tứ trong buổi tối đầu tiên gặp người vợ nhặt. Muốn gọi cho chính xác, cần thầm trả lời câu hỏi: nv là người như thế nào, ta sẽ có 2 ý như sau: (1). Nhân vật bà cụ Tứ là người mẹ nghèo khổ Và (2).Nhân vật bà cụ Tứ là người nhân hậu. - Nên gọi ý một cách ngắn gọn. - Khi chuyển ý, nên chú ý tính kết dính để tránh rời rạc, văn không có mạch.
  6. 6 - Tuyệt đối không đi theo mạch truyện, vì: bài viết thành bài kể lể; chứng tỏ không có khả năng khái quát ý, không hiểu đề. d.2.2. Cách vận dụng LLVH - Vận dụng LLVH vào gọi ý/luận điểm. Để làm được điều này, cần phải nhận ra rất nhanh ý đó/ vấn đề đó liên quan đến vân đề gì của LLVH thì sự vận dụng mới hợp lí. Ví dụ + Ý (1). Nhân vật bà cụ Tứ là người mẹ nghèo khổ là hình ảnh rất chân thực. Do đó, có thể vận dụng LLVH về đối tượng phản ánh/mối quan hệ giữa VH và đời sống để gọi ý (1) như sau: Văn chương bắt nguồn từ đời sống nên văn chương trước hết phải chân thật. Nhân vật bà cụ Tứ là hình ảnh chân thật về người mẹ khổ nghèo. + Ý (2) Nhân vật bà cụ Tứ là người nhân hậu. Nhân hậu là phẩm chất, là vẻ đẹp. Do đó, có thể vận dụng LLVH về đối tượng phản ánh để gọi ý như sau: Lấy con người làm đối tượng phản ánh nhưng con người trong văn chương được khám phá ở chiều sâu thẩm mĩ, do đó, nó không chỉ chân thật mà còn phải đẹp. Nhân vật bà cụ Tứ trong VN của KL tuy nghèo khổ mà đẹp vô cùng ở một lòng nhân hậu. Vận dụng LLVH vào chốt ý. Muốn làm được điều này, việc phân tích cần kĩ lưỡng, sâu sắc. Cần hơn nữa là việc phân tích cần khoa học: có phân tích, có tổng hợp, nâng cao (Bài Phép phân tích và tổng hợp đã học ở lớp 9). Khi nâng cao, khái quát, chính là lúc chạm đến được LLVH. Ví dụ: Phân tích đoạn thơ Dốc lên khúc khuỷu dốc thăm thẳm/Heo hút cồn mây súng ngửi trời/Ngàn thước lên cao, ngàn thước xuống/Nhà ai Pha Luông mưa xa khơi. Sau khi phân tích các yếu tố ngôn từ, hình ảnh, nhịp thơ, biện pháp nghệ thuật, có thể khái quát như sau: Đoạn thơ giàu chất nhạc; giàu chất hoạ khiến người đọc không chỉ như “ngậm nhạc ở trong miệng” (Xuân Diệu) mà còn như được thưởng tranh. Đoạn thơ quả là minh chứng sinh động cho mối duyên thơ – nhạc – hoạ. Đoạn thơ cũng là một nhịp cầu cho ta đến với một Quang Dũng tài hoa, lãng mạn bởi “người thơ phong vận như thơ ấy” Hai câu cuối chính là vận dụng LLVH về đặc trưng thơ, về phong cách NT để chốt, nâng cao, đánh giá. Những đoạn chốt đó giúp cho bài viết từ cây mà thấy được rừng, tránh vụn vặt, miên man. e. Cách sử dụng dẫn chứng mở rộng - Mục đích + Thể hiện phông kiến thức; + Thể hiện khả năng huy động kiến thức; + Giúp cho việc phân tích thấu đáo + Giúp cho người chấm có thiện cảm. - Nguyên tắc: hợp lí (đối tượng; mức độ: không nên lạm dụng)
  7. 7 - Cách huy động: luôn có ý thức liên hệ = cách trả lời câu hỏi, viết về vấn đề này, ai đã viết? viết như thế nào? - Nguồn huy động: không cần phải tìm tòi ở đâu xa, tìm ngay các tác phẩm cùng chương trình. Ví dụ: Phân tích câu thơ Mưa nguôn suối lũ những mây cùng mù trong VB có thể liên hệ với Trôi dòng nước lũ hoa đong đưa trong TT; Phân tích dáng sông Đà như áng tóc trữ tình có thể liên hệ với dáng sông Hương mềm như tấm lụa; Phân tích nỗi khổ của người đàn bà hàng chài trong CTNX, có thể liên hệ với nỗi khổ của Mị, của nv vợ nhặt Hoặc xa hơn, có thể liên hệ với những TP cùng đề tài. VD: Phân tích vẻ đẹp thuỷ chung của người con gái trong Sóng, liên hệ với ca dao về lòng chung thuỷ, với chính thơ XQ. - Cách sử dụng: Dù liên hệ để thây điểm chung hay nét riêng, luôn cần những khái quát để bài có chiều sâu. + Liên hệ để thấy điểm tương đồng Ví dụ: Khi phân tích điệu chảy của sông Hương khi ngang qua thành phố, điệu chảy chậm như mặt hồ yên tĩnh, như điệu slow tình cảm, có thể liên hệ với thơ Hàn Mặc Tử: Dòng nước buồn thiu, hoa bắp lay; với thơ Tố Hữu Hương giang ơi, dòng sông êm; với thơ Thu Bồn Con sông dùng dằng, con sông không chảy. Từ đó, có thể kết lại như sau: Không hẹn mà gặp, các nhà thơ đều có chung cảm nhận về điệu chảy dịu dàng của dòng sông xứ Huế. Có phải đó cũng là vẻ đẹp riêng, góp phần làm nên sức quyến rũ của xứ mộng và thơ? Và có phải cái đẹp muôn đời là nơi hẹn hò của nghệ thuật? + Liên hệ để thấy điểm khác biệt Ví dụ: Phân tích hai câu thơ Em cũng không biết nữa/Khi nào ta yêu nhau, có thể liên hệ với câu thơ của Xuân Diệu Làm sao cắt nghĩa được tình yêu. Từ đó thấy rõ sự khác biệt: XD cắt nghĩa bằng lí trí, XQ nói bằng trực cảm nên thơ XQ là lời tự bạch hồn nhiên, chân thành, tươi tắn mà vẫn không kém phần sâu xa, ý nhị. Đó cũng là nét riêng thơ XQ vậy! h. Cách viết phần câu hỏi phân hoá - Về dung lượng: không cần quá dài: khoảng ¼ trang giấy thi. - Về cách trả lời + Nếu hỏi về liên hệ để thấy điểm chung, nét riêng: nên giới thiệu ngắn gọn đối tượng liên hệ, chỉ ra điểm chung, nét riêng và ý nghĩa. + Nếu hỏi về /nhận xét về một phương diện nào đó (tác phẩm, tác giả): nêu biểu hiện và nêu ý nghĩa. i. Cách viết văn tự nhiên, có cảm xúc, không gò theo khuôn mẫu
  8. 8 - Thay đổi từ linh hoạt, tránh lặp từ, tuyệt đối không dùng từ như văn nói (rằng, thì, là, mà, các thứ, con người ta); các từ rất mòn sáo (trong cuộc sống hiện đại ngày nay, tóm lại, ở đây có thể hiểu là ) - Viết câu linh hoạt về dung lượng, về kiểu câu. - Muốn vậy: ngôn ngữ phải phong phú, tác phẩm phải nắm vững và sâu. 3.2.2. Đối với học sinh trung bình - Yêu cầu học sinh nắm vững kiến thức cơ bản, có mở rộng vừa phải, mở bài trực tiếp, Ví dụ minh hoạ: Trong truyện ngắn Vợ chồng A Phủ, khi Mị bị A Sử trói vào cột, Tô Hoài viết: “Trong bóng tối, Mị đứng im lặng, như không biết mình đang bị trói. Hơi rượu còn nồng nàn, Mị vẫn nghe tiếng sáo đưa Mị đi theo những cuộc chơi, những đám chơi. “Em không yêu, quả pao rơi rồi. Em yêu người nào, em bắt pao nào ”. Mị vùng bước đi. Nhưng tay chân đau không cựa được. Mị không nghe tiếng sáo nữa. Chỉ còn nghe tiếng chân ngựa đạp vào vách. Ngựa vẫn đứng yên, gãi chân, nhai cỏ. Mị thổn thức nghĩ mình không bằng con ngựa”. (Vợ chồng A Phủ – Tô Hoài) Từ đoạn văn trên, anh/ chị hãy làm rõ hình ảnh nhân vật Mị và nghệ thuật miêu tả tâm lí nhân vật của nhà văn. a) Bước 1: Phân tích đề: + Xác định dạng đề: Nghị luận về đoạn trích văn xuôi + Yêu cầu nội dung: Hình ảnh nhân vật Mị và nghệ thuật miêu tả tâm lí nhân vật của nhà văn. + Yêu cầu vê phương pháp: phân tích, chứng minh, bình luận + Yêu cầu phạm vi tư liệu, dẫn chứng: Đoạn trích đề bài đưa ra trong “Vợ chồng A Phủ” Bước 2: Dàn ý chi tiết: Mở bài + Giới thiệu tác giả, tác phẩm: có thể chọn lọc cá ý sau đây để đưa vào mở bài: ++ Năm 1952 Tô Hoài đi cùng với bộ đội vào giải phóng Tây Bắc . Trong chuyến đi này nhà văn đã có dịp sống găn bó với đồng bào các dân tộc thiểu số (Thái , Mường, Mông , Dao )nên đã để lại nhiều kỉ niệm, hiểu biết về cuộc sống con người miền núi Thôi thúc Tô Hoài viết ” Truyện Tây Bắc” trong đó có “Vợ chồng A Phủ” ++ “Vợ chồng A Phủ” (1952) in trong tập truyện “Tây Bắc”. Truyện được giải nhất Truyện và kí VN năm 1954- 1955. Tác phẩm gồm hai phần, đoạn trích trong sách giáo khoa là phần một. + Giới thiệu đọan trích cần nghị luận (Không cần chép hết đoạn trích vào bài thi) + Vấn đề nghị luận: Hình ảnh nhân vật Mị và nghệ thuật miêu tả tâm lí nhân vật của nhà văn. Thân bài
  9. 9 Luận điểm 1: Khái quát về tác phẩm và vị trí đoạn trích (ngắn gọn) Luận điểm 2: Phân tích đoạn trích để làm nổi bật vấn đề Học sinh phải tách tách thành hai ý theo yêu cầu của đề bài. Trong mỗi ý lớn, học sinh phải xác định được các ý nhỏ. 1. Hình ảnh nhân vật Mị + Mị có khát vọng sống mãnh liệt “Trong bóng tối, Mị đứng im lặng, như không biết mình đang bị trói. Hơi rượu còn nồng nàn, Mị vẫn nghe tiếng sáo đưa Mị đi theo những cuộc chơi, những đám chơi. “Em không yêu, quả pao rơi rồi. Em yêu người nào, em bắt pao nào ”: ++ Mị vốn là một cô gái yêu đời, có khát vọng sống mãnh liệt. Dù bị trà đạp nghiệt ngã nhưng khát vọng ấy đã trỗi dậy trong đêm tình mùa xuân. ++ Nếu ban đầu, tiếng sáo còn là yếu tố ngoại cảnh, giờ đây tiếng sáo đã nhập hẳn vào tâm hồn Mị. Mị đang sống trọn với nó. Tiếng sáo là tiếng gọi của tình yêu, tình đời; tiếng sáo vẫn tha thiết, giục giã; tiếng sáo đã đánh thức khát vọng sống nơi Mị. + Số phận của Mị (Mị vùng bước đi. Nhưng tay chân đau không cựa được. Mị không nghe tiếng sáo nữa. Chỉ còn nghe tiếng chân ngựa đạp vào vách. Ngựa vẫn đứng yên, gãi chân, nhai cỏ. Mị thổn thức nghĩ mình không bằng con ngựa): + +Mị bừng tỉnh, dây trói của A Sử làm Mị nhận ra hiện thực nghiệt ngã. Khát vọng sống của Mị đã bị chặn đứng. ++ Mị nghĩ mình không bằng con ngựa và thực tế cuộc đời Mị không bằng con ngựa (Mị là con dâu gạt nợ, là thân phận nô lệ, bị giam hãm ) Tấm lòng của nhà văn. 2. Nghệ thuật miêu tả tâm lí nhân vật của nhà văn + Nhà văn như đã nhập thân vào nhân vật Mị và miêu tả diễn biến tâm lí theo một trình tự hợp lí: ++ Để đánh thức sức sống đang tiềm tàng trong Mị, nhà văn trả lại cho Mị kí ức đẹp. ++ Đang sống trong quá khứ mà quên cả hiện tại đang bị trói nên Mị vùng bước đi. ++ Khi nỗi đau thể xác ập đến, thế giới mông tưởng bị dập tắt, Mị không nghe tiếng sáo nữa mà nghe tiếng chân ngựa. + Sử dụng yếu tố ngoại cảnh có hiệu quả: hơi rượu, tiếng sáo, bài hát quen thuộc. Tài năng của nhà văn Kết bài: Đánh giá chung về tác phẩm, đoạn trích 3.2.3. Đối với học sinh yếu: - Động viên các em tham gia các buổi học đầy đủ, ghi chép bài, dàn bài đối với các em cũng thật đơn giản - Có thể hướng dẫn các em làm phiếu học tập Phiếu học tập (kẻ bảng): giáo viên có thể phát phiếu hoặc yêu cầu học sinh kẻ bảng theo
  10. 10 mẫu. Hình thức này sẽ giúp học sinh chuyển những ý đã tìm được thành luận điểm; triển khai luận điểm rõ ràng, tránh tình trạng liệt kê chi tiết. Cảm nhận (so Bố cục Luận điểm Luận cứ Dẫn chứng sánh, liên hệ ) Mở bài Luận điểm 1 Thân bài Luận điểm 2 Luận điểm 3 Kết bài Ví dụ: Cho đề bài Từ đây, như đã tìm đúng đường về, sông Hương vui tươi hẳn lên giữa những biển bãi xanh biếc của vùng ngoại ô Kim Long, kéo một nét thẳng thực yên tâm theo hướng tây nam – đông bắc, phía đó, nơi cuối đường, nó đã nhìn thấy chiếc cầu trắng của thành phố in ngần trên nền trời, nhỏ nhắn như những vành trăng non. Lúc ấy, tôi nhớ lại con sông Hương của tôi, chợt thấy quý điệu chảy lặng lờ của nó khi ngang qua thành phố Đấy là điệu slow tình cảm dành riêng cho Huế, có thể cảm nhận được bằng thị giác qua trăm nghìn ánh hoa đăng bồng bềnh vào những đêm hội rằm tháng Bảy từ điện Hòn Chén trôi về, qua Huế bỗng ngập ngừng như muốn đi muốn ở, chao nhẹ trên mặt nước như những vấn vương của một nỗi lòng. (Trích Ai đã đặt tên cho dòng sông, Hoàng Phủ Ngọc Tường, Ngữ văn 12, Tập một, Nxb Giáo dục Việt Nam, tr.199-200, 2014). Cảm nhận vẻ đẹp hình tượng sông Hương trong đoạn trích trên. Từ đó, bình luận ngắn về cái “tôi” tài hoa, uyên bác của Hoàng Phủ Ngọc Tường. Giáo viên có thể hướng dẫn học sinh lập dàn ý bằng cách kẻ bảng như sau: Cảm nhận (so Bố cục Luận điểm Luận cứ Dẫn chứng sánh, liên hệ ) - Tác giả Mở bài Hoàng Phủ Ngọc Tường
  11. 11 là gương mặt tiêu biểu của văn học Việt Nam hiện đại; có phong cách độc đáo và sở trường về thể bút kí. Đặc sắc trong sáng tác của ông là sự kết hợp giữa trí tuệ và trữ tình. - Tác phẩm: Ai đã đặt tên cho dòng sông là bài bút kí xuất sắc của ông, được viết tại Huế năm 1981, in trong tập bút kí cùng tên. - Đoạn trích: vè đẹp sông Hương trong lòng thành phố Huế và cái tôi tài hoa, uyên bác của Hoàng Phủ Ngọc Tường. Dòng sông - thẳng thực - Cách miêu tả Trong cái hiện yên gợi Thân bài nhìn ra đẹp thơ tâm theo cảm giác thanh hội họa mộng hướng thản, như một bức tây nam – yên bình của
  12. 12 tranh lụa đông một huyền bắc dòng sông đã ảo - sông Hương tìm thấy uốn một cánh chính mình, tìm cung rất nhẹ thấy sang đến Cồn tình yêu của Hến đường mình khi cong ấy làm về tới thành phố dòng sông hình mềm như chỉ dành hẳn đi, như riêng một cho nó. tiếng vâng -Liên tưởng độc không nói ra đáo, của tình yêu sông Hương dịu dàng, e thẹn, mang chút ngập ngừng của một người con gái khi nhận lời yêu thương từ người yêu của mình Trong cái . . nhìn âm nhạc - Ai đã đặt tên cho dòng sông thấm đẫm tình yêu say đắm của tác giả đối với dòng sông Hương, đối với quê hương, đối với sự sống. Kết bài - Những nét tài hoa của một cây bút tài ba và giàu trí tuệ đồng thời cũng am hiểu rất tường tận nhiều lĩnh vực của cuộc sống II. LUYỆN TẬP. 1. Đề 1 : Cảm nhận về đoạn thơ sau trong bài thơ “Việt Bắc” của Tố Hữu:
  13. 13 “Mình đi, có nhớ những ngày Mưa nguồn suối lũ, những mây cùng mù? Mình về, có nhớ chiến khu Miếng cơm chấm muối, mối thù nặng vai? Mình về, rừng núi nhớ ai Trám bùi để rụng, măng mai để già. Mình đi, có nhớ những nhà Hắt hiu lau xám, đậm đà lòng son Mình về, còn nhớ núi non Nhớ khi kháng Nhật, thuở còn Việt Minh Mình đi, mình có nhớ mình Tân Trào, Hồng Thái, mái đình cây đa? (Ngữ văn 12, tập 1, NXBGD VN, 2018, tr.110) Từ đó nhận xét về chất tình ca và hùng ca trong đoạn trích. a.Dàn bài cho học sinh khá/giỏi I. Mở bài: - Giới thiệu tác giả, tác phẩm: Dẫn dắt “ Thơ là viên kim cương lấp lánh dưới ánh mặt trời” (Sóng Hồng). Viên kim cương ấy sẽ lấp lánh một màu sắc riêng biệt của cuộc đời, như cách mà Tố Hữu đã chạm khắc tiếng thơ của mình vào thế giới thơ ca hiện đại Việt Nam bằng giọng thơ trữ tình, chính trị, đậm đà bản sắc dân tộc, giọng điệu tâm tình ngọt ngào thương mến. “Việt Bắc” là một trong những đỉnh cao của thơ ca kháng chiến chống Pháp, bài thơ cũng tiêu biểu cho đời thơ, phong cách thơ của Tố Hữu. - Giới thiệu vấn đề nghị luận:Vẻ đẹp, giá trị của bài thơ được tỏa ra từ ánh sáng lấp lánh của những vần thơ đậm chất tình ca và hùng ca sau: ( Trích dẫn) II. Thân bài 1. Giới thiệu tác giả, tác phẩm, Khái quát nội dung các đoạn thơ trước và giới thiệu đoạn thơ 2. Cảm nhận về nội dung đoạn thơ: -Đoạn thơ gồm sáu câu cặp câu lục bát: Câu 6 hỏi, câu 8 là lời gợi nhắc những kỉ niệm một thời gắn bó. -Sự đắp đổi nhịp nhàng trong các điệp ngữ của câu 6 “Mình đi có nhớ Mình về có nhớ ”, sự đắp đổi trong 2 vế của các câu 8 tạo nên nhạc điệu ngân nga, dìu dặt, ngọt ngào cho đoạn thơ. Nhạc điệu trữ tình ấy đã góp phần thể hiện tinh tế nỗi vấn vương, xao xuyến, giăng mắc trong lòng kẻ ở người đi, để qua đó, quá khứ đầy ắp kỷ niệm đã ào ạt trở về.
  14. 14 a. Bốn câu đầu: Người ở lại nhắn người ra đi hãy nhớ về buổi đầu kháng chiến gian khổ nhưng nghĩa tình: “Mình, đi có nhớ những ngày Mưa nguồn suối lũ, những mây cùng mù Mình, về có nhớ chiến khu Miếng cơm chấm muối, mối thù nặng vai.” + Người ở lại dự cảm sự đổi thay trong xa cách nên cất tiếng lòng nhắc nhở người ra đó có nhớ cuộc sống sinh hoạt ở nới núi rừng Việt Bắc: “Mình, đi có nhớ những ngày Mưa nguồn suối lũ, những mây cùng mù” Hình ảnh “Mưa nguồn suối lũ” kết hợp với cách nói tăng tiến “những”, “cùng” gợi một Việt Bắc dữ dội, hoang sơ, bí hiểm. Mặt khác, từ hình ảnh thiên nhiên khắc nghiệt, Tố Hữu gợi ra những khó khăn dồn dập liên tục trong buổi đầu Cách mạng. Khi đó, người cán bộ cách mạng trèo đèo, lội suối đến với Việt Bắc, cùng nhân dân lập căn cứ cách mạng. Như vậy, ngay từ buổi đầu, người đi-kẻ ở đã đồng cam cộng khổ, gắn bó nghĩa tình. + Nhưng Việt Bắc không chỉ hoang sơ, dữ dội mà còn nghèo nàn, khó khăn, thiếu thốn: “Mình về, có nhớ chiến khu Miếng cơm chấm muối, mối thù nặng vai.” Liên hệ: Cuộc kháng chiến chống Pháp bước đầu với muôn vàn khó khăn, thiếu thốn. Điều này ta từng gặp trong thơ Chính Hữu: “Áo anh rách vai Quần tôi có vài mảnh vá” hay trong thơ Quang Dũng: “Tây Tiến đoàn binh không mọc tóc Quân xanh màu lá dữ oai hùm.” . Hình ảnh “miếng cơm chấm muối” là hình ảnh chân thực được rút ra từ cuộc kháng chiến gian nan, thiếu thốn. . Tiếu đối, tách câu thơ làm hai vế: Miếng cơm chấm muối/ Mối thù nặng vai, để làm nổi bật một bên là cuộc sống thiếu thốn, gian khổ, bên kia là lòng căm thù giặc. =>Cách nói của Tố Hữu thật giàu hình ảnh, mới mẻ, sâu xa. Người đi, kẻ ở đoàn kết một lòng vượt qua khó khăn, thiếu thốn. Đây là phẩm chất cao đẹp của con người Việt Nam khi đất nước có chiến tranh. Xưa trong “Bình ngô đại cáo”, Nguyễn Trãi cũng đã từng viết: “Nhân dân bốn cõi một nhà dựng cần trúc ngọn cờ phấp phới Tướng sĩ một lòng phụ tử hòa nước sông chén rượu ngọt ngào”. b. Bốn câu tiếp: Không chỉ nhắn gửi người ra đi hãy nhớ về cảnh sắc núi rừng Việt Bắc mà người ở lại còn nhắn gửi người ra đi hãy nhớ về cuộc sống nơi đây nghèo khổ mà nghĩa tình:
  15. 15 “Mình về, rừng núi nhớ ai Trám bùi để rụng, măng mai để già Mình đi, có nhớ những nhà Hắt hiu lau xám, đậm đà lòng son.” + Tố Hữu đã sử dụng nghệ thuật nhân hóa và hoán dụ: . “Rừng núi” là cách nói hoán dụ chỉ đồng bào Việt Bắc. . “Rừng núi nhớ ai” là muốn nói đồng bào Việt Bắc nhớ người cán bộ kháng chiến, một nỗi nhớ tràn ngập không gian. Vì thế “trám bùi để rụng, măng mai để già”. Đây là ẩn dụ có tới hai nét nghĩa. Ta có thể hiểu là đồng bào Việt Bắc muốn dành tặng những món ăn này cho người chiến sĩ, mong ước ngày gặp lại. Nhưng người chiến sĩ đã về xuôi, vì thế “trám bùi”, “măng mai” biết để cho ai, chắc là chỉ để “rụng”, để “già” mà thôi. Ta cũng có thể hiểu theo nét nghĩa thứ hai: “Trám bùi” là một sản vật quý giá, “măng mai” thể hiện sự tươi non vậy mà đang ở trạng thái "rụng”, “già”. Phải chăng thể hiện sự trống trải, cô đơn trong lòng người ở lại. + Lời thơ còn khắc họa hình ảnh một Việt Bắc xa xôi nhưng ấm áp nghĩa tình: “Mình đi, có nhớ những nhà Hắt hiu lau xám, đậm đà lòng son.” Đây là một câu thơ tuyệt hay. Cái hay của nó nằm ở sự chân thực và giản dị: Những mái nhà tranh vách đất, những ngọn lau xám hắt hiu trước gió, bữa ăn chỉ có sắn, khoai Việt Bắc nghèo nhưng “đậm đà lòng son”, thủy chung nghĩa tình. Ở hai câu thơ này, tác giả sử dụng đảo ngữ, từ láy làm sáng lên tấm lòng cao quý, đùm bọc chở che của nhân dân kháng chiến với cán bộ cách mạng, đó chính là chủ nghĩa yêu nước, chủ nghĩa anh hùng của nhân dân Việt Bắc. c. Bốn câu cuối: Đoạn thơ khép lại bằng lời nhắn gửi của người ở lại tới người ra đi hãy coi Việt Bắc như quê hương của mình: “Mình về, còn nhớ núi non Nhớ khi kháng Nhật, thuở còn Việt Minh Mình đi, mình có nhớ mình Tân Trào, Hồng Thái, mái đình, cây đa?” -“Núi non” là hình ảnh hoán dụ để chỉ đồng bào Việt Bắc, đó là vẻ đẹp của thiên nhiên, của con người biết bao ân tình, người ra đi làm sao có thể nguôi quên. -Việt Bắc là nơi thành lập mặt trận Việt Minh (1941) để lãnh đạo toàn dân kháng chiến chống Pháp . -“cây đa Tân Trào”, “mái đình Hồng Thái” là nơi họp quốc dân đại hội, nơi làm lễ xuất quân của Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân. =>Người ở lại mong người ra đi hãy tự hào về những trang sử hào hùng, những địa danh, tên đất, tên làng đã trở thành dấu son chói lọi của Việt Bắc.
  16. 16 -Từ “mình” trong câu thơ “mình đi, mình có nhớ mình” xuất hiện ba lần có tính đa nghĩa, nó vừa chỉ đồng bào Việt Bắc, vừa chỉ người cán bộ kháng chiến về xuôi. =>Đồng bào Việt Bắc muốn nhắc nhở người ra đi đừng đánh mất mình trong một hoàn cảnh mới. Câu thơ cuối có một sự đổi chỗ thật thú vị, lẽ ra phải viết “Mái đình Hồng Thái, cây đa Tân Trào” thì ở đây Tố Hữu lại viết “Tân Trào, Hồng Thái, mái đình, cây đa”. Nghĩa là Việt Bắc chính là quê hương yêu dấu, là một phần đời, một phần kí ức không thể phai nhòa. Giống như Đỗ Trung Quân đã từng viết: “Quê hương nếu ai không nhớ Sẽ không lớn nổi thành người.” *Nghệ thuật: - Nhà văn Tô Hoài đã từng nói “ Thơ bắt rễ từ lòng người và nở hoa nơi từ ngữ. Mỗi chữ phải như một hạt ngọc buông xuống trang bản thảo”. Quả thật bài thơ sẽ không thể trọn vẹn nếu chỉ có tâm hồn, trái tim và lòng nhiệt huyết, mà nó còn cần phải khoác lên mình “ bộ y phục tối tân”, đem đến một bữa tiệc của ngôn từ, của hình ảnh. Tố Hữu trong Việt Bắc đã vận dụng thành công thể thơ lục bát truyền thống; khai thác có hiệu quả kết cấu đối đáp trong ca dao, dân ca. Ngoài ra, sắc thái ý nghĩa của cặp đại từ “mình”- “ta” cũng được nhà thơ sử dụng thể hiện đầy sáng tạo. Ngôn ngữ dân dã, mộc mạc, sử dụng nhuần nhuyễn các thủ pháp nghệ thuật điệp từ, điệp cấu trúc, so sánh, liệt kê góp phần thể hiện sâu sắc nỗi nhớ da diết của người cán bộ về xuôi. * Đánh giá -Việt Bắc là bông hoa nghệ thuật giàu sắc hương trong vườn thơ kháng chiến. Bài thơ nói chung, đoạn thơ nói riêng, là sự kết tinh tình cảm riêng chung dân tộc và cách mạng tạo nên tiếng thơ trữ tình chính trị độc đáo. -Đoạn thơ trên là một đoạn thơ tiêu biểu cho cái hay, cái đẹp trong bản trường ca này. Tình nghĩa sâu nặng giữa cách mạng và nhân dân đã tạo nên sức mạnh tinh thần chiến thắng quân thù. -Đoạn thơ đã khẳng định tài năng thơ của Tố Hữu, một nhà thơ toàn tâm, toàn ý cho cách mạng, một người cách mạng lấy sự thủy chung với nhân dân là cuộc sống của chính mình. “Thơ là tiếng nói tri âm”, đoạn thơ đã bắc một nhịp cầu tri âm để chúng ta hiểu tiếng thơ giàu tính dân tộc của Tố Hữu. 3. Chất hùng ca và tình ca trong đoạn trích: - Chất hùng ca là âm hưởng hào hùng được thể hiện trong tác phẩm thơ văn. Chất tình ca là tình cảm của tác giả gửi gắm trong văn bản. Hai yếu tố này thường kết hợp hài hòa trong tác phẩm văn chương -Biểu hiện: + Chất hùng ca: .Việt Bắc là bản hùng ca của cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, phản ánh những ngày đầu kháng chiến đầy khó khăn, gian khổ, anh dũng và kết thúc tháng lợi vẻ vang