Ôn tập TN THPT môn Ngữ văn - Chuyên đề: Cách làm luận điểm 1
Bạn đang xem tài liệu "Ôn tập TN THPT môn Ngữ văn - Chuyên đề: Cách làm luận điểm 1", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên.
File đính kèm:
on_tap_tn_thpt_mon_ngu_van_chuyen_de_cach_lam_luan_diem_1.docx
Nội dung tài liệu: Ôn tập TN THPT môn Ngữ văn - Chuyên đề: Cách làm luận điểm 1
- SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO CHUYÊN ĐỀ ÔN TẬP BẮC NINH KÌ THI TỐT NGHIỆP NĂM 2023 Môn: Ngữ văn CHUYÊN ĐỀ 6: CÁCH LÀM LUẬN ĐIỂM 1 Người biên soạn: Phan Thị Loan Đơn vị: Trường THPT Nguyễn Văn Cừ I. Lí thuyết 1. Khái niệm về văn nghị luận Theo SGK Ngữ văn 11, tập 2: “Nghị luận là một thể loại văn học đặc biệt, dùng lý lẽ, phán đoán, chứng cớ để bàn luận về một vấn đề nào đó. Vấn đề nêu ra như một câu hỏi cần làm sáng tỏ. Luận là bàn về đúng, sai, phải, trái, khẳng định điều này, bác bỏ điều kia để người ta nhận ra chân lý, đồng tình với mình, chia sẻ quan điểm và niềm tin của mình. Sức mạnh của văn nghị luận là ở sự sâu sắc của tư tưởng, tình cảm, tính mạch lạc, chặt chẽ của suy nghĩ và trình bày, sự thuyết phục của lập luận. Vận dụng các thao tác giải thích phân tích, chứng minh, bác bỏ, so sánh” Như vậy có thể thấy Nghị luận văn học là dạng văn bàn về các vấn đề văn chương- nghệ thuật, sử dụng lý lẽ và dẫn chứng để làm sáng tỏ hoặc phân tích cảm nhận những cái hay, đặc sắc, độc đáo về nội dung và nghệ thuật của tác phẩm văn học. Quá trình nghị luận văn học cũng cần đến sự kết hợp của thao tác lập luận như phân tích, bình luận, giải thích, chứng minh 2. Vị trí của câu Nghị luận văn học trong bài thi Tốt nghiệp THPT môn Ngữ văn: Câu nghị luận văn học (NLVH) là câu có nhiều điểm nhất trong toàn bộ đề thi (5 điểm/ 10 điểm). Do đó học sinh cần dành nhiều thời gian và kiến thức nhất để hoàn thành câu hỏi này. Để bài thi đạt được điểm 8 trở lên thì câu NLVH, HS phải cầm chắc trong tay 4 điểm trở lên. Đạt được 4 điểm trở lên cho phần này, HS cần đảm bảo những điều kiện/phương tiện và tìm ra cách thức/con đường. Và một trong những điều kiện đó là làm tốt từ luận điểm 1. 3. Vai trò của luận điểm 1 trong bài thi Tốt nghiệp THPT môn Ngữ văn: a. Vị trí của luận điểm 1 - Theo đáp án chấm, thang điểm cho luận điểm 1 là 0.5 điểm. Tuy nhiên, vai trò của luận điểm 1 không chỉ là 0,5 điểm/ 5 điểm toàn bài mà còn cho thấy khả năng nắm chắc kiến thức cơ bản của học sinh. Những kiến thức về vị trí của tác giả, đặc điểm phong cách nghệ thuật, hoàn cảnh ra đời của tác phẩm đều là những kiến thức nền tảng để sự cảm nhận, lí giải về giá trị nội dung và nghệ thuật của tác phẩm có căn cứ và thuyết phục. Điều đó góp phần làm nên thành công chung của toàn bài. b. Những nội dung cần làm rõ - Trong luận điểm 1, học sinh cần trình bày hiểu biết của mình về những kiến thức liên quan đến tác giả tác phẩm, bao gồm: + Giới thiệu được vị trí văn học sử, đặc điểm trong phong cách nghệ thuật của tác giả đó. 1
- + Hoàn cảnh ra đời của tác phẩm, nêu được mạch cảm xúc (nếu là nghị luận về thơ) hoặc tóm tắt ngắn gọn nội dung (hoặc tình huống) nếu nghị luận về tác phẩm truyện. -Tùy theo trình độ của học sinh mà nội dung triển khai cũng có sự phân hóa rõ. Với học sinh trung bình, khá, kiến thức đạt được ở phần này chỉ dừng ở mức độ khái quát. Những học sinh khá giỏi, để bài đạt 8 trở lên, cần lí giải sâu hơn và trích ra được những nhận định đánh giá xác đáng về tác giả hoặc tác phẩm. Với hoàn cảnh sáng tác, biết vận dụng phân tích hoàn cảnh để lí giải chủ đề. c. Những lỗi học sinh thường mắc phải - Thực tế chấm thi cho thấy, bên cạnh một số em làm tốt thì vẫn còn nhiều trường hợp giới thiệu quá vắn tắt, hời hợt nông cạn cho có, thậm chí có em bỏ qua phần này và đi ngay vào luận điểm phân tích. Nguyên nhân là do hoc sinh không nắm chắc kiến thức về tác giả, tác phẩm, không hiểu mối liên hệ giữa cảm hứng, chủ đề của tác phẩm với hoàn cảnh sáng tác và đặc điểm của phong cách nghệ thuật mỗi tác giả. - Một số khác lại viết quá lan man, dài dòng, chiếm một lượng thời gian rất lớn, ảnh hưởng tới nội dung trọng tâm phần sau. Vậy GV khi ôn thi cần chú trọng hướng dẫn HS kĩ năng viết luận điểm 1. d. Một số kinh nghiệm hướng dẫn học sinh viết luận điểm 1 - Với học sinh ở mức trung bình - khá (điểm từ 5 đến 7,5), Gv hướng dẫn học sinh khái quát được những nét cơ bản nhất: + Về tác giả: Vị trí văn học sử, đặc điểm cơ bản trong phong cách nghệ thuật. + Về tác phẩm: khái quát về hoàn cảnh sáng tác (năm, sự kiện liên quan), xuất xứ, cảm hứng chủ đạo, tóm tắt nội dung hoặc tình huống truyện. -Với học sinh giỏi (điểm 8 trở lên): + Trích dẫn được nhận định tiêu biểu về tác giả (vị trí, đặc điểm phong cách) + Lí giải được sự tác động của hoàn cảnh sáng tác tới sự ra đời và chủ đề của tác phẩm. II. Bài tập: 1. Viết luận điểm 1 cho đối tượng học sinh đạt từ điểm 5 - dưới 8 (đối tượng học sinh trung bình – khá) 1.1 Tuyên ngôn Độc lập: Đề tham khảo: Cho đoạn trích sau: Sự thật là từ mùa thu năm 1940, nước ta đã thành thuộc địa của Nhật, chứ không phải thuộc địa của Pháp nữa. Khi Nhật hàng Đồng minh thì nhân dân cả nước ta đã nổi dậy giành chính quyền lập nên nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Sự thật là dân ta đã lấy lại nước Việt Nam từ tay Nhật, chứ không phải từ tay Pháp. Pháp chạy, Nhật hàng, vua Bảo Đại thoái vị. dân ta đã đánh đổ các xiềng xích thực dân gần một trăm năm nay để gây dựng nên nước Việt Nam độc lập. Dân ta lại đánh đổ chế độ quân chủ mấy mươi thế kỷ mà lập nên chế độ dân chủ cộng hòa. Bởi thế cho nên, chúng tôi, lâm thời chính phủ của nước Việt Nam mới, đại biểu cho toàn dân Việt Nam, tuyên bố thoát ly hẳn quan hệ thực dân với Pháp, xóa bỏ hết những hiệp ước mà Pháp đã ký về nước Việt Nam, xóa bỏ tất cả mọi đặc quyền của Pháp trên đất nước Việt Nam. 2
- Toàn dân Việt Nam, trên dưới một lòng, kiên quyết chống lại âm mưu của bọn thực dân Pháp. Chúng tôi tin rằng các nước đồng minh đã công nhận những nguyên tắc dân tộc bình đẳng ở các hội nghị Tê-hê-răng và Cựu-kim-sơn, quyết không thể không công nhận quyền độc lập của dân Việt Nam. Một dân tộc đã gan góc chống ách nô lệ của Pháp hơn tám mươi năm nay, một dân tộc đã gan góc đứng về phe đồng minh chống phát-xít mấy năm nay, dân tộc đó phải được tự do! dân tộc đó phải được độc lập! Vì những lẽ trên, chúng tôi, Chính phủ lâm thời của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, trịnh trọng tuyên bố với thế giới rằng: Nước Việt Nam có quyền hưởng tự do và độc lập, và sự thật đã thành một nước tự do, độc lập. Toàn thể dân tộc Việt Nam quyết đem tất cả tinh thần và lực lượng, tính mạng và của cải để giữ vững quyền tự do, độc lập ấy. (Trích Tuyên ngôn độc lập, Hồ Chí Minh - Ngữ văn 12, Tập một, NXB Giáo dục Việt Nam, 2010, Tr.40) Phân tích lời tuyên bố độc lập trong đoạn trích trên. Từ đó nhận xét về phong cách văn chính luận của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Gợi ý: Hồ Chí Minh là anh hùng dân tộc, danh nhân văn hóa thế giới, nhà văn, nhà thơ lớn có quan điểm nghệ thuật tiến bộ: coi văn chương là vũ khí lợi hại phụng sự sự nghiệp cách mạng với phong cách nghệ thuật độc đáo, đa dạng, hấp dẫn. “Tuyên ngôn độc lập” được Bác viết vào thời điểm chiến tranh thế giới thứ hai kết thúc. Phát- xít Nhật đang chiếm đóng nước ta lúc bấy giờ, đã đầu hàng Đồng minh. Trên toàn quốc, nhân dân ta vùng dậy giành chính quyền. Ngày 26 tháng 8 năm 1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh từ chiến khu cách mạng Việt Bắc về tới Hà Nội. Tại căn nhà số 48 Hàng Ngang, Người soạn thảo bản Tuyên ngôn Độc lập. Ngày 2 tháng 9 năm 1945, tại Quảng trường Ba Đình, Hà Nội, trước hàng vạn đồng bào, Người thay mặt Chính phủ lâm thời nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà đọc bản Tuyên ngôn Độc lập khai sinh ra nước Việt Nam mới. Tuyên ngôn độc lập gồm 3 phần. Phần một nêu cơ sở pháp lí và chính nghĩa. Phần 2 tố cáo tội ác của thực dân Pháp, khái quát công cuộc nổi dậy giành chính quyền oanh liệt của nhân dân ta. Phần còn lại là lời tuyên bố về nền độc lập. Đoạn trích nằm ở phần cuối của bản tuyên ngôn đã góp phần thể hiện rõ phong cách văn chính luận của Hồ Chí Minh. 1.2. Tây Tiến Đề tham khảo: Cho đoạn trích sau: Tây Tiến đoàn binh không mọc tóc Quân xanh màu lá dữ oai hùm Mắt trừng gửi mộng qua biên giới Đêm mơ Hà Nội dáng kiều thơm Rải rác biên cương mồ viễn xứ 3
- Chiến trường đi chẳng tiếc đời xanh Áo bào thay chiếu anh về đất Sông Mã gầm lên khúc độc hành (Trích “Tây Tiến” – Quang Dũng, tập1, NXB Giáo dục, tr. 89, 2008) Cảm nhận của anh/chị về đoạn thơ trên. Từ đó, hãy nhận xét về bút pháp hiện thực và lãng mạn trong thơ Quang Dũng. Gợi ý: Quang Dũng là một hồn thơ phóng khoáng, hồn hậu, lãng, mạn và tài hoa, đặc biệt khi viết về người lính Tây Tiến và xứ Đoài (Sơn Tây). Bài thơ “Tây Tiến” được sáng tác năm 1948 khi ông đã rời xa đơn vị. “Tây Tiến” là đơn vị bộ đội được thành lập năm 1947, giữa những ngày đầu vô cùng gian khổ của cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp. Lính Tây Tiến phần đông là thanh niên Hà Nội, trong đó có nhiều học sinh, sinh viên, trí thức trẻ. Binh đoàn này hoạt động chủ yếu trên địa bàn núi rừng miền Tây Bắc Việt Nam sang tới Thượng Lào, có nhiệm vụ bảo vệ biên giới Việt - Lào và phối hợp với bộ đội Lào đánh tiêu hao lực lượng quân đội Pháp. Sinh hoạt vô cùng thiếu thốn và gian khổ nhưng lính Tây Tiến vẫn phơi phới tinh thần lãng mạn anh hùng. Tác phẩm được in trong tập “Mây đầu ô” Bài thơ chia thành bốn khổ. Khổ thứ nhất tái hiện những chặng đường hành quân gian khổ của binh đoàn Tây Tiến giữa khung cảnh thiên nhiên miền Tây hùng vĩ, dữ dội. Khổ 2 là kỉ niệm về tình quân dân và bức tranh thiên nhiên trữ tình, thơ mộng. Khổ 3 tạc lên bức chân dung người lính Tây Tiến. Khổ cuối là lời thề gắn bó với binh đoàn Tây Tiến. Đoạn thơ trên thuộc về khổ thơ thứ 3, qua đó Quang Dũng mang đến cho bạn đọc cái nhìn chân thực về ngoại hình và vẻ đẹp tâm hồn của người chiến binh Tây Tiến. 1.3 Việt Bắc Đề tham khảo: Cho đoạn trích sau: Mình đi, có nhớ những ngày Mưa nguồn suối lũ, những mây cùng mù? Mình về, có nhớ chiến khu Miếng cơm chấm muối, mối thù nặng vai? Mình về, rừng núi nhớ ai Trám bùi để rụng, măng mai để già. Mình đi, có nhớ những nhà 4
- Hắt hiu lau xám, đậm đà lòng son Mình về, còn nhớ núi non Nhớ khi kháng Nhật, thuở còn Việt Minh Mình đi, mình có nhớ mình Tân Trào, Hồng Thái, mái đình cây đa? (Trích Việt Bắc, Tố Hữu, Ngữ văn 12, Tập một, NXB Giáo dục Việt Nam, 2020, tr.110) Cảm nhận đoạn thơ trên. Từ đó nhận xét tính dân tộc trong thơ Tố Hữu được thể hiện qua đoạn thơ. Gợi ý: Tố Hữu là một trong những lá cờ đầu của nền thơ ca cách mạng Việt Nam. Chặng đường thơ của ông gắn bó và phản ánh chân thật những chặng đường cách mạng đầy gian khổ hi sinh nhưng cũng nhiều thắng lợi vinh quang của dân tộc, đồng thời thể hiện sự vận động quan điểm tư tưởng và bản lĩnh nghệ thuật của nhà thơ. Thơ Tố Hữu là thơ trữ tình chính trị sâu sắc được thể hiện qua giọng thơ tự nhiên, tâm tình, ngọt ngào – giọng điệu của tình cảm thương mến; đậm đà tình dân tộc, nhất là nghệ thuật biểu hiện. Bài thơ “Việt Bắc” ra đời từ sự kiện tháng 10 năm 1954, những người cán bộ kháng chiến từ căn cứ miền núi trở về miền xuôi, Trung ương Đảng và Chính phủ rời chiến khu Việt Bắc về lại thủ đô. Bài thơ có hai phần: phần đầu tái hiện những kỉ niệm cách mạng và kháng chiến; phần sau gợi viễn cảnh tươi sáng của đất nước và ngợi ca công ơn của Đảng, Bác Hồ đối với dân tộc. Đoạn trích thuộc phần đầu của bài thơ, là những lời nhắn nhủ của đồng bào Việt Bắc đối với người cán bộ kháng chiến về những ngày tháng gian khổ, thiếu thốn ở vùng căn cứ địa cách mạng, gắn liền với những sự kiện lịch sử quan trọng, với biết bao ân nghĩa, ân tình. 1.4 Đất Nước Đề tham khảo: Cho đoạn trích sau: Họ giữ và truyền cho ta hạt lúa ta trồng Họ truyền lửa cho mỗi nhà từ hòn than qua con cúi Họ truyền giọng điệu mình cho con tập nói Họ gánh theo tên xã, tên làng trong mỗi chuyến di dân Họ đắp đập be bờ cho người sau trông cây hái trái Có ngoại xâm thì chống ngoại xâm Có nội thù thì vùng lên đánh bại Để Đất Nước này là Đất Nước Nhân dân Đất Nước của Nhân dân, Đất Nước của ca dao thần thoại 5
- Dạy anh biết “yêu em từ thuở trong nôi” Biết quý công cầm vàng những ngày lặn lội Biết trồng tre đợi ngày thành gậy Đi trả thù mà không sợ dài lâu (Trích Đất nước (Mặt đường khát vọng), Nguyễn Khoa Điềm, SGK Ngữ văn 12, tập một, tr. 121-122) Anh/ Chị hãy phân tích hình tượng Đất Nước qua đoạn thơ trên. Từ đó, làm rõ tư tưởng mới mẻ của Nguyễn Khoa Điềm về Đất Nước. Gợi ý: Nguyễn Khoa Điềm là một nhà thơ tiêu biểu của thế hệ thơ trẻ những năm chống Mĩ cứu nước có những đóng góp nổi bật trong thơ ca Việt Nam, ông đã đem đến cho thơ tiếng nói trữ tình của tuổi trẻ, đặc biệt là sự tự ý thức của tuổi trẻ về vai trò, trách nhiệm của mình trong cuộc chiến đấu và sự nhận thức sâu sắc về đất nước, về nhân dân qua những trải nghiệm của chính mình. Thơ Nguyễn Khoa Điểm hấp dẫn bởi sự kêt hợp giữa cảm xúc nồng nàn và suy tư sâu lắng của người trí thức vể đất nước, con người Việt Nam. Trường ca Mặt đường khát vọng được tác giả hoàn thành ở chiến khu Trị - Thiên năm 1971, in lần đầu năm 1974, viết về sự thức tỉnh của tuổi trẻ đô thị vùng tạm chiếm miền Nam về non sông đất nước, về sứ mệnh của thế hệ mình, xuống đường đấu tranh hòa nhịp với cuộc chiến đấu chống Mỹ xâm lược. Đoạn trích Đất Nước thuộc phần đầu chương V của trường ca, là một trong những đoạn thơ hay về đề tài đất nước trong thơ Việt Nam hiện đại. Đoạn trích chia làm hai phần. Phần thứ nhất là cách cảm nhận độc đáo về quá trình hình thành, phát triển của đất nước qua nhiều phương diện lịch sử, văn hóa, địa lí, từ đó khơi dậy ý thức về trách nhiệm thiêng liêng của mỗi người. Phần còn lại là tư tưởng “Đất Nước của nhân dân”. Đoạn thơ trên thuộc phần còn lại của đoạn trích đã nêu bật vai trò của nhân dân trong việc sáng tạo, lưu giữ những giá trị vật chất và tinh thần, góp phần xây dựng bảo vệ đất nước. 1.5 Sóng Đề tham khảo: Cho đoạn trích sau: “Dữ dội và dịu êm Ồn ào và lặng lẽ Sông không hiểu nổi mình Sóng tìm ra tận bể 6
- Ôi con sóng ngày xưa Và ngày sau vẫn thế Nỗi khát vọng tình yêu Bồi hồi trong ngực trẻ Trước muôn trùng sóng bể Em nghĩ về anh, em Em nghĩ về biển lớn Từ nơi nào sóng lên? Sóng bắt đầu từ gió Gió bắt đầu từ đâu? Em cũng không biết nữa Khi nào ta yêu nhau ” (Sóng – Xuân Quỳnh, Ngữ văn 12, Tập một, NXB Giáo dục Việt Nam) Cảm nhận của anh/chị về hình tượng sóng trong đoạn thơ trên. Từ đó nhận xét về cách bày tỏ khát vọng tình yêu của nhà thơ Xuân Quỳnh. Gợi ý: Xuân Quỳnh là một trong những nhà thơ tiêu biểu nhất của thế hệ các nhà thơ trẻ thời kì kháng chiến chống Mỹ. Thơ Xuân Quỳnh là tiếng lòng của một tâm hồn phụ nữ nhiều trắc ẩn, vừa hồn nhiên, tươi tắn, vừa chân thành, đằm thắm và luôn da diết trong khát vọng về hạnh phúc bình dị đời thường. Sóng được sáng tác năm 1967 trong chuyến đi thực tế ở vùng biển Diêm Điền, Thái Bình, là một trong những bài thơ đặc sắc viết về tình yêu, rất tiêu biểu cho phong cách thơ Xuân Quỳnh. Bài thơ được in trong tập thơ Hoa dọc chiến hào (1968) Bài thơ mở ra bằng những nhận thức, trăn trở về tình yêu qua hình tượng sóng (khổ 1,2) từ đó gợi lên những suy tư về cội nguồn của sóng và cội nguồn của tình yêu (khổ 7
- 3,4). Nữ sĩ đã mượn nỗi nhớ của sóng với bờ để diễn tả nỗi nhớ da diết, lòng thủy chung son sắt của người con gái trong tình yêu (khổ 5,6,7). Thi phẩm khép lại bằng khát vọng về tình yêu vĩnh cửu, bất diệt (khổ 8,9). Đoạn thơ trên là các khổ thơ 2,3,4. 1.6 Người lái đò Sông Đà: Đề tham khảo: Cho đoạn trích sau: Thuyền tôi trôi trên Sông Đà. Cảnh ven sông ở đây lặng tờ. Hình như từ đời Lí đời Trần đời Lê, quãng sông này cũng lặng tờ đến thế mà thôi. Thuyền tôi trôi một nương ngô nhú lên mấy lá ngô non đầu mùa. Mà tịnh không một bóng người. Cỏ gianh đồi núi đang ra những nõn búp. Một đàn hươu cúi đầu ngốn búp cỏ gianh đẫm sương đêm. Bờ sông hoang dại như một bờ tiền sử. Bờ sông hồn nhiên như một nỗi niềm cổ tích tuổi xưa. Chao ôi, thấy thèm được giật mình vì một tiếng còi xúp – lê của một chuyến xe lửa đầu tiên đường sắt Phú Thọ – Yên Bái - Lai Châu. Con hươu thơ ngộ ngẩng đầu nhung khỏi áng cỏ sương, chăm chăm nhìn tôi lừ lừ trôi trên một mũi đò. Hươu vểnh tai, nhìn tôi không chớp mắt mà như hỏi tôi bằng cái tiếng nói riêng của con vật lành: "Hỡi ông khách Sông Đà, có phải ông cũng vừa nghe thấy một tiếng còi sương?". Đàn cá dầm xanh quẫy vọt lên mặt sông bụng trắng như bạc rơi thoi. Tiếng cá đập nước sông đuổi mất đàn hươu vụt biến. Thuyền tôi trôi trên "Dải Sông Đà bọt nước lênh bênh - Bao nhiêu cảnh bấy nhiêu tình" của "một người tình nhân chưa quen biết" (Tản Đà), Dòng sông quãng này lững lờ như nhớ thương những hòn đá thác xa xôi để lại trên thượng nguồn Tây Bắc. Và con sông như đang lắng nghe những giọng nói êm êm của người xuôi, và con sông đang trôi những con đò mình nở chạy buồm vải nó khác hẳn những con đò đuôi én thắt mình dây cổ điển trên dòng trên. (Trích Người lái đò Sông Đà, Nguyễn Tuân, Ngữ văn 12, Tập một, NXBGD Việt Nam, tr. 191-192) Cảm nhận của anh/chị về vẻ đẹp của hình tượng sông Đà trong đoạn trích trên. Từ đó nhận xét những đặc sắc trong phong cách nghệ thuật Nguyễn Tuân. Gợi ý: Nguyễn Tuân là một trí thức có lòng yêu nước nồng nàn và tinh thần dân tộc sâu sắc. Có thể nói, ông chính là một định nghĩa đầy đủ về người nghệ sĩ chân chính. Phong cách nghệ thuật của Nguyễn Tuân độc đáo, có thể thâu tóm trong chữ “ngông”, thể hiện sự tài hoa, uyên bác, khám phá đời sống và con người trên phương diện văn hóa – thẩm mĩ. Tùy bút Người lái đò Sông Đà in trong tập Sông Đà (1960) là kết quả của chuyến đi gian khổ và hào hứng tới miền Tây Bắc rộng lớn, xa xôi của Tổ quốc, không chỉ để thỏa mãn niềm khao khát “xê dịch”, mà chủ yếu để tìm kiếm chất vàng của thiên nhiên cùng thứ vàng mười đã qua thử lửa ở tâm hồn con người lao động và chiến đấu trên miền núi sông hùng 8
- vĩ và thơ mộng. Qua đó, người đọc nhận ra diện mạo một Nguyễn Tuân mới mẻ, khao khát được hòa nhịp với đất nước và cuộc đời này. Ở phần mở đầu đoạn trích, bạn đọc đã được chiêm ngưỡng một con sông Đà hung bạo, hùng vĩ, dữ dội qua cảnh đá bờ sông “dựng vách thành” cao và hẹp đến nghẹt thở, sự dữ dội của mặt ghềnh Hát Lóong, quãng mường Tà Vát với những cái hút nước nguy hiểm chết người, đặc biệt là thạch trận đang gào thét, gầm rú ghê sợ, sẵn sàng ăn chết bất cứ con thuyền nào qua đây. Nhưng trái ngược với vẻ hung tợn đó còn có một con sông Đà trữ tình, dịu dàng, thơ mộng. Khi nhìn từ trên cao, dòng sông uốn lượn như mái tóc dài thướt tha của người thiếu nữ kiều diễm. Với điểm nhìn từ hai bên bờ, con sông như một cố nhân mang vẻ đẹp Đường thi xưa cũ. Đoạn trích trên nằm ở đoạn cuối của tác phẩm, ca ngợi vẻ đẹp thơ mộng, trữ tình của sông Đà dưới điểm nhìn của một du khách đang lênh đênh trên mặt nước Đà giang. 1.7 Ai đã đặt tên cho dòng sông? Đề 1: Cho đoạn trích sau: “Từ đây, như đã tìm đúng đường về, sông Hương vui tươi hẳn lên giữa những biển bãi xanh biếc của vùng ngoại ô Kim Long, kéo một nét thẳng thực yên tâm theo hướng tây nam – đông bắc, phía đó, nơi cuối đường, nó đã nhìn thấy chiếc cầu trắng của thành phố in ngần trên nền trời, nhỏ nhắn như những vành trăng non. Giáp mặt thành phố ở Cồn Giã Viên, sông Hương uốn một cánh cung rất nhẹ sang đến Cồn Hến; đường cong ấy làm cho dòng sông mềm hẳn đi, như một tiếng “vâng” không nói ra của tình yêu. Và như vậy, giống như sông Xen của Pa-ri, sông Đa-nuýp của Bu-đa-pét, sông Hương nằm ngay giữa lòng thành phố yêu quý của mình; Huế trong tổng thể vẫn giữ nguyên dạng một đô thị cổ, trải dọc hai bờ sông. Đầu và cuối ngõ thành phố, những nhánh sông đào mang nước sông Hương tỏa đi khắp phố phường với những cây đa, cây cừa cổ thụ tỏa vầng lá u sầm xuống xóm thuyền xúm xít; từ những nơi ấy, vẫn lập lòe trong đêm sương những ánh lửa thuyền chài của một linh hồn mô tê xưa cũ mà không một thành phố hiện đại nào còn nhìn thấy được. Những chi lưu ấy, cùng với hai hòn đảo nhỏ trên sông đã làm giảm hẳn lưu tốc của dòng nước, khiến cho sông Hương khi đi qua thành phố đã trôi đi chậm, thực chậm, cơ hồ chỉ còn là một mặt hồ yên tĩnh. Tôi đã đến Lê-nin-grat, có lúc đứng nhìn sông Nê-va cuốn trôi những đám băng lô xô, nhấp nháy trăm màu dưới ánh sáng mặt trời mùa xuân, mỗi phiến băng chở một con hải âu nghịch ngợm đứng co lên một chân, thích thú với chiếc thuyền xinh đẹp của chúng và đoàn tàu tốc hành lạ lùng ấy với những hành khách tí hon của nó băng băng lướt qua trước cung điện Pê-téc-bua cũ để ra bể Ban-tích. [ ] Hai nghìn năm trước, có một người Hi Lạp tên là Hê-ra-clít, đã khóc suốt đời vì những dòng sông trôi đi qua nhanh, thế vậy! Lúc ấy, tôi nhớ lại con sông Hương của tôi, chợt thấy quý điệu chảy lặng lờ của nó khi ngang qua thành phố Đấy là điệu slow tình cảm dành riêng cho Huế, có thể cảm nhận được bằng thị giác qua trăm nghìn ánh hoa đăng bồng bềnh vào những đêm hội rằm tháng Bảy từ điện Hòn Chén trôi về, qua Huế bỗng ngập ngừng như muốn đi muốn ở, chao nhẹ trên mặt nước như những vấn vương của một nỗi lòng” 9
- (Trích Ai đã đặt tên cho dòng sông?, Hoàng Phủ Ngọc Tường, Ngữ văn 12, Tập một, Nxb Giáo dục Việt Nam, tr.199-200, 2014). Cảm nhận vẻ đẹp hình tượng sông Hương trong đoạn trích trên. Từ đó, bình luận ngắn về cái “tôi” tài hoa, uyên bác của Hoàng Phủ Ngọc Tường. Gợi ý: Hoàng Phủ Ngọc Tường là một trong những nhà văn chuyên về bút kí. Nét đặc sắc trong sáng tác của ông là sự kết hợp nhuần nhuyễn giữa chất trí tuệ và chất trữ tình, giữa nghị luận sắc bén với suy tư đa chiều được tổng hợp từ vốn kiến thức phong phú về triết học, văn hóa, lịch sử, địa lí, Tất cả được thể hiện qua lối hành văn hướng nội, súc tích, mê đắm và tài hoa. “Ai đã đặt tên cho dòng sông?” là bài bút kí xuất sắc, viết tại Huế, ngày 4 - 1- 1981, in trong tập sách cùng tên. Trong bài kí, vẻ đẹp của sông Hương trước hết được tác giả cảm nhận từ góc nhìn địa lí qua thủy trình, cảnh sắc thiên nhiên của dòng Hương giang từ vùng thượng lưu qua vùng đồng bằng rồi về thành phố Huế. Ở mỗi khúc đoạn dòng sông lại hiện lên với một vẻ đẹp riêng đầy cuốn hút. Ở thượng lưu sông Hương được ví như “bản trường ca của rừng già” gắn với đại ngàn Trường Sơn, con sông mang một sức sống mãnh liệt, hùng tráng và là “cô gái Di-gan phóng khoáng và man dại”, là “người mẹ phù sa của một vùng văn hóa xứ sở”. Sông Hương ở ngoại vi thành phố “như người gái đẹp nằm ngủ mơ màng” giữa cánh đồng Châu Hóa đầy hoa dại, mong đợi người tình đến đánh thức và mang một vẻ đẹp trầm mặc như triết lí cổ thi. Đoạn văn nói trên miêu tả vẻ đẹp của sông Hương khi nó chảy về đồng bằng châu thổ và đi vào lòng thành phố Huế. Đề 2: Cho đoạn trích sau: Hình như trong khoảnh khắc chùng lại của sông nước ấy, sông Hương đã trở thành một người tài nữ đánh đàn lúc đêm khuya. Đã nhiều lần tôi thất vọng khi nghe nhạc Huế giữa ban ngày, hoặc trên sân khấu nhà hát. Quả đúng như vậy, toàn bộ nền âm nhạc cổ điển Huế đã được sinh thành trên mặt nước của dòng sông này, trong một khoang thuyền nào đó, giữa tiếng nước rơi bán âm của những mái chèo khuya. Nguyễn Du đã bao năm lênh đênh trên quãng sông này, với một phiến trăng sầu. Và từ đó, những bản đàn đã đi suốt đời Kiều. Tôi đã chứng kiến một người nghệ nhân già, chơi đàn hết nửa thế kỉ, một buổi tối ngồi nghe con gái đọc Kiều: “Trong như tiếng hạc bay qua - Đục như tiếng suối mới sa nửa vời” Đến câu ấy, người nghệ nhân chợt nhổm dậy vỗ đùi, chỉ vào trang sách Nguyễn Du mà thốt lên: “Đó chính là Tứ đại cảnh!”. Rời khỏi kinh thành, sông Hương chếch về hướng chính bắc, ôm lấy đảo Cồn Hến quanh năm mơ màng trong sương khói, đang xa dần thành phố để lưu luyến ra đi giữa màu xanh của tre trúc và của những vườn cau vùng ngoại ô Vĩ Dạ. Và rồi, như sực nhớ lại một điều gì chưa kịp nói, nó đột ngột đổi dòng, rẽ ngoặt sang hướng đông tây để gặp lại thành phố lần cuối ở góc thị trấn Bao Vinh xưa cổ. Đối với Huế, nơi đây chính là chỗ chia tay dõi xa ngoài mười dặm trường đình. Riêng với sông Hương, vốn đang xuôi chảy giữa cánh đồng phù sa êm ái của nó, khúc quanh này thực bất ngờ biết bao. Có một cái gì rất lạ với tự nhiên và rất giống con người ở đây; và để nhân cách hoá nó lên, tôi gọi đây là nỗi vương 10
- vấn, cả một chút lẳng lơ kín đáo của tình yêu. Và giống như nàng Kiều trong đêm tình tự, ở ngã rẽ này, sông Hương đã chí tình trở lại tìm Kim Trọng của nó, để nói một lời thề trước khi về biển cả: “Còn non, còn nước, còn dài, còn về, còn nhớ ”. Lời thề ấy vang vọng khắp lưu vực sông Hương thành giọng hò dân gian; ấy là tấm lòng người dân nơi Châu Hoá xưa mãi mãi chung tình với quê hương xứ sở”. (Trích Ai đã đặt tên cho dòng sông?, Hoàng Phủ Ngọc Tường, Ngữ văn 12, Tập một, NXB Giáo dục Việt Nam, 2020, tr.198-199). Phân tích hình tượng sông Hương trong đoạn trích trên. Từ đó, nhận xét về tình cảm của Hoàng Phủ Ngọc Tường dành cho xứ Huế. Gợi ý: Hoàng Phủ Ngọc Tường là một trong những nhà văn chuyên về bút kí. Nét đặc sắc trong sáng tác của ông là sự kết hợp nhuần nhuyễn giữa chất trí tuệ và chất trữ tình, giữa nghị luận sắc bén với suy tư đa chiều được tổng hợp từ vốn kiến thức phong phú về triết học, văn hóa, lịch sử, địa lí, Tất cả được thể hiện qua lối hành văn hướng nội, súc tích, mê đắm và tài hoa. “Ai đã đặt tên cho dòng sông?” là bài bút kí xuất sắc, viết tại Huế, ngày 4 - 1- 1981, in trong tập sách cùng tên. Trong bài kí, vẻ đẹp của sông Hương trước hết được tác giả cảm nhận từ góc nhìn địa lí qua thủy trình, cảnh sắc thiên nhiên của dòng Hương giang từ vùng thượng lưu qua vùng đồng bằng rồi về thành phố Huế. Ở mỗi khúc đoạn dòng sông lại hiện lên với một vẻ đẹp riêng đầy cuốn hút. Ở thượng nguồn, sông Hương như một cô gái Di-gan phóng khoáng, man dại có tâm hồn tự do, trong sáng. Khi về đến đồng bằng châu thổ, nó mang vẻ đẹp của một người con gái đẹp và nhuốm màu cổ tích. Người con gái đẹp ấy dám dấn thân vào một cuộc hành trình đầy gian truân để tìm đến với người tình trong mộng là thành phố Huế. Theo đó, đoạn văn này miêu tả vẻ đẹp của sông Hương khi ở trong lòng thành phố Huế và rời khỏi kinh thành Huế. 1.8 Vợ chồng A Phủ Đề 1: Cho đoạn trích sau: “Ngày Tết, Mị cũng uống rượu. Mị lén lấy hũ rượu, uống ực từng bát. Rồi say, Mị lịm mặt ngồi đấy nhìn người nhảy đồng, người hát. Nhưng lòng Mị đang sống về ngày trước. Tai Mị văng vẳng tiếng sáo gọi bạn đầu làng. Ngày trước Mị thổi sáo giỏi. Mùa xuân này, Mị uống rượu bên bếp và thổi sáo. Mị uốn chiếc lá trên môi, thổi lá cũng hay như thổi sáo. Có biết bao nhiêu người mê, ngày đêm đã thổi sáo đi theo Mị. Rượu đã tan lúc nào. Người về, người đi chơi đã vãn cả, Mị không biết. Mị vẫn ngồi trơ một mình giữa nhà. Mãi sau Mị mới đứng dậy. Nhưng Mị không bước ra đường chơi, mà Mị từ từ bước vào buồng. Chẳng năm nào A Sử cho Mị đi chơi Tết. Mị cũng chẳng buồn đi. Bấy giờ Mị ngồi xuống giường, trông ra cái cửa sổ lỗ vuông mờ mờ trăng trắng. Đã từ nãy Mị thấy phơi phới trở lại, trong lòng đột nhiên vui như những đêm Tết ngày trước. Mị trẻ lắm. Mị vẫn còn trẻ. Mị muốn đi chơi. Bao nhiêu người có chồng cũng đi chơi Tết. Huống chi A Sử với Mị, không có lòng với nhau mà vẫn phải ở với nhau! Nếu có nắm lá 11
- ngón trong tay lúc này, Mị sẽ ăn cho chết ngay, chứ không buồn nhớ lại nữa. Nhớ lại, chỉ thấy nước mắt ứa ra.Mà tiếng sáo gọi bạn vẫn lửng lơ bay ngoài đường. Anh ném pao, em không bắt Em không yêu, quả pao rơi rồi ” (Trích Vợ chồng A Phủ, Tô Hoài, Ngữ văn 12, tập hai, NXB Giáo dục Việt Nam, trang 7-8) Anh/ chị hãy phân tích tâm trạng và hành động của nhân vật Mị trong đoạn văn bản trên. Từ đó nhận xét ngắn gọn về nghệ thuật miêu tả nhân vật của Tô Hoài. Gợi ý: Tô Hoài là nhà văn lớn, có số lượng tác phẩm đạt kỉ lục trong văn học hiện đại Việt Nam. Sáng tác của ông thiên về sự thật đời thường “Viết văn là một quá trình đấu tranh để nói ra sự thật. Đã là sự thật thì không tầm thường, cho dù phải đập vỡ những thần tượng trong lòng người đọc”. Ông có vốn hiểu biết phong phú, sâu sắc về phong tục, tập quán của nhiều vùng miền khác nhau trên đất nước ta. “Vợ chồng A Phủ” (1952) in trong tập Truyện Tây Bắc, kết quả chuyến đi dài 8 tháng vào năm 1952 của Tô Hoài cùng bộ đội về giải phóng Tây Bắc, được tặng giải Nhất – Giải thưởng Hội Văn nghệ Việt Nam 1954 – 1955. Sau hơn nửa thế kỉ, đến nay, tác phẩm vẫn giữ nguyên vẹn giá trị và sức thu hút đối với nhiều thế hệ người đọc. Ở phần mở đầu tác phẩm, người đọc đã thấy một cô Mị bất hạnh, từ người con gái xinh đẹp tài hoa, cô bị bắt về làm dâu gạt nợ nhà Thống lí và phải chịu kiếp sống như thân trâu ngựa. Sự đày đọa về thể xác dẫn đến sự tê liệt trong tinh thần nên Mị không còn nghĩ ngợi gì nữa, cứ lùi lũi như con rùa nơi xó cửa. Trong đầu của Mị chỉ còn các các việc lặp đi lặp lại nối nhau vẽ ra trước mắt. Những tưởng Mị sẽ cam chịu, chấp nhận kiếp sống ấy cho đến chết nhưng đằng sau sự cam chịu, chấp nhận ấy của Mị là sức sống tiềm tàng mãnh liệt. Tiếng sáo và những đêm tình mùa xuân đã đánh thức khát vọng sống và giấc mộng lứa đôi, khơi dậy sức sống tiềm tàng ở Mị. Đoạn trích trên này nằm ngay sau đoạn văn miêu tả thiên nhiên Tây Bắc với tác động của âm thanh tiếng sáo gọi bạn lấp ló nơi đầu núi vào dịp tết đến xuân về. Đề 2: Cho đoạn trích sau: Những đêm mùa đông trên núi cao dài và buồn, nếu không có bếp lửa sưởi kia thì Mị cũng đến chết héo. Mỗi đêm, Mị dậy ra thổi lửa hơ tay, hơ lưng, không biết bao nhiêu lần. Thường khi đến gà gáy sáng Mị ngồi dậy ra bếp sưởi một lúc thật lâu thì các chị em trong nhà mới bắt đầu ra dóm lò bung ngô, nấu cháo lợn. Mỗi đêm, khi nghe tiếng phù phù thổi bếp, A Phủ lại mở mắt. Ngọn lửa sưởi bùng lên, cùng lúc ấy thì Mị cũng nhìn sang, thấy mắt A Phủ trừng trừng, mới biết A Phủ còn sống. Mấy đêm nay như thế. Nhưng Mị vẫn thản nhiên thổi lửa, hơ tay. Nếu A Phủ là cái xác chết đứng đấy, cũng thế thôi. Mị vẫn 12
- trở dậy, vẫn sưởi, chỉ biết chỉ còn ở với ngọn lửa. Có đêm A Sử chợt về, thấy Mị ngồi đấy, A Sử đánh Mị ngã ngay xuống cửa bếp. Nhưng đêm sau Mị vẫn ra sưởi như đêm trước. Lúc ấy đã khuya. Trong nhà đã ngủ yên, thì Mị trở dậy thổi lửa. Ngọn lửa bập bùng sáng lên, Mị lé mắt trông sang, thấy hai mắt A Phủ cũng vừa mở, một dòng nước mắt lấp lánh bò xuống hai hóm má đã xám đen lại. Nhìn thấy tình cảnh như thế, Mị chợt nhớ đêm năm trước A Sử trói Mị, Mị cũng phải trói đứng thế kia. Nhiều lần khóc, nước mắt chảy xuống miệng, xuống cổ, không biết lau đi được. Trời ơi, nó bắt trói đứng người ta đến chết, nó bắt mình chết cũng thôi, nó bắt trói đến chết người đàn bà ngày trước cũng ở cái nhà này. Chúng nó thật độc ác. Cơ chừng này chỉ đêm mai là người kia chết, chết đau, chết đói, chết rét, phải chết. Ta là thân đàn bà, nó đã bắt ta về trình ma nhà nó rồi thì chỉ còn đợi ngày rũ xương ở đây thôi Người kia việc gì mà phải chết. A Phủ Mị phảng phất nghĩ như vậy. Ðám than đã vạc hẳn lửa. Mị không thổi, cũng không đứng lên. Mị nhớ lại đời mình, Mị tưởng tượng như có thể một lúc nào, biết đâu A Phủ chẳng đã trốn được rồi, lúc ấy bố con Pá Tra sẽ bảo là Mị đã cởi trói cho nó, Mị liền phải trói thay vào đấy. Mị phải chết trên cái cọc ấy. Nghĩ thế, trong tình cảnh này, làm sao Mị cũng không thấy sợ Lúc ấy, trong nhà đã tối bưng, Mị rón rén bước lại, A Phủ vẫn nhắm mắt, nhưng Mị tưởng như A Phủ đương biết có người bước lại Mị rút con dao nhỏ cắt lúa, cắt nút dây mây. A Phủ cứ thở phè từng hơi, không biết mê hay tỉnh. Lần lần, đến lúc gỡ được hết dây trói ở người A Phủ thì Mị cũng hốt hoảng, Mị chỉ thì thào được một tiếng “Ði ngay ”, rồi Mị nghẹn lại. A Phủ bỗng khuỵu xuống, không bước nổi. Nhưng trước cái chết có thể đến nơi ngay, A Phủ lại quật sức vùng lên, chạy. Mị đứng lặng trong bóng tối. Rồi Mị cũng vụt chạy ra. Trời tối lắm. Nhưng Mị vẫn băng đi. Mị đuổi kịp A Phủ, đã lăn, chạy, chạy xuống tới lưng dốc, Mị nói, thở trong hơi gió thốc lạnh buốt: - A Phủ cho tôi đi. A Phủ chưa kịp nói, Mị lại nói: - Ở đây thì chết mất”. (“Vợ chồng A Phủ”- Tô Hoài, Ngữ văn 12 tập hai, NXB giáo dục, 2008, tr13, 14). Phân tích diễn biến tâm trạng của Mị trong đoạn trích trên. Từ đó, nhận xét về nghệ thuật khắc họa nội tâm nhân vật của Tô Hoài. Gợi ý: Tô Hoài là nhà văn lớn, có số lượng tác phẩm đạt kỉ lục trong văn học hiện đại Việt Nam. Sáng tác của ông thiên về sự thật đời thường “Viết văn là một quá trình đấu tranh để nói ra sự thật. Đã là sự thật thì không tầm thường, cho dù phải đập vỡ những thần tượng trong lòng người đọc”. Ông có vốn hiểu biết phong phú, sâu sắc về phong tục, tập quán của nhiều vùng miền khác nhau trên đất nước ta. “Vợ chồng A Phủ” (1952) in trong tập Truyện Tây Bắc, kết quả chuyến đi dài 8 tháng vào năm 1952 của Tô Hoài cùng bộ đội về giải phóng Tây Bắc, được tặng giải Nhất – Giải thưởng Hội Văn nghệ Việt Nam 1954 – 1955. Sau hơn nửa thế kỉ, đến nay, tác phẩm vẫn giữ nguyên vẹn giá trị và sức thu hút đối với nhiều thế hệ người đọc. 13

