Ôn tập TN THPT môn Ngữ văn - Chuyên đề: Cách làm mở bài, kết bài cho bài văn nghị luận văn học
Bạn đang xem tài liệu "Ôn tập TN THPT môn Ngữ văn - Chuyên đề: Cách làm mở bài, kết bài cho bài văn nghị luận văn học", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên.
File đính kèm:
on_tap_tn_thpt_mon_ngu_van_chuyen_de_cach_lam_mo_bai_ket_bai.docx
Nội dung tài liệu: Ôn tập TN THPT môn Ngữ văn - Chuyên đề: Cách làm mở bài, kết bài cho bài văn nghị luận văn học
- SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO CHUYÊN ĐỀ ÔN TẬP BẮC NINH KỲ THI TỐT NGHIỆP THPT NĂM ¯¯¯¯¯¯¯¯¯ 2023 Môn: Ngữ văn ¯¯¯¯¯¯¯¯ TÊN CHUYÊN ĐỀ: CÁCH LÀM MỞ BÀI, KẾT BÀI CHO BÀI VĂN NGHỊ LUẬN VĂN HỌC (3 ĐỐI TƯỢNG HỌC SINH) Người biên soạn: Nguyễn Thị Hiền Đơn vị công tác: THPT Trần Hưng Đạo I. LÍ THUYẾT Để viết được một bài văn nghị luận hay thì việc nắm được các kĩ năng phân tích đề, kĩ năng lập ý, lập dàn ý, kĩ năng lập luận và các thao tác nghị luận là rất quan trọng. Bên cạnh đó, mở bài và kết bài cũng là một kĩ năng rất quan trọng. Mở bài đánh dấu bước khởi đầu trong quá trình trình bày vấn đề cần nghị luận, và kết bài cho ta biết việc trình bày vấn đề đã kết thúc. 1. Lý thuyết đoạn mở bài 1.1. Khái niệm Mở bài (hay còn gọi là dẫn đề, nhập đề), đây là phần mở đầu của một bài văn. Đoạn văn mở bài là phần đầu tiên của văn bản, có vai trò định hướng cho văn bản. Phần mở bài chứa đựng vấn đề cần giải quyết (vấn đề cần nghị luận) hoặc giới hạn của vấn đề. Phần mở bài có vai trò tạo sự chú ý, ảnh hưởng đến cảm xúc, tâm lý cho người đọc, người nghe. Có hai cách mở bài: a. Mở bài trực tiếp - Mở bài theo phương pháp trực tiếp là vào ngay luận đề, vấn đề cần giải quyết, không qua một khâu trung gian nào cả. Đây là phép mở bài mà người xưa nói: “Khai môn kiến sơn”. - Cách này thường ngắn gọn, dễ làm nhưng đôi khi kém phần thu hút đọc giả. - Mở bài trực tiếp thường dành cho đối tượng học sinh trung bình - Một số mở bài trực tiếp: Ví dụ 1: Phân tích vẻ đẹp nhân vật Huấn Cao trong truyện ngắn “Chữ người tử tù” của Nguyễn Tuân. “Nguyễn Tuân là một trong những tác giả tiêu biểu của nên văn học Việt nam. Ai đọc truyện
- ngắn “Chữ người tử tù” của Nguyễn Tuân cũng không thể không xúc động, nghiêng mình cảm phục trước vẻ đẹp của hình tượng nhân vật Huấn Cao”. Ví dụ 2: Phân tích bài thơ “Sóng” của Xuân Quỳnh “Nữ sĩ Xuân Quỳnh đã để lại cho đời nhiều thi phẩm độc đáo, trong đó nổi bật nhất là bài thơ “Sóng” Ví dụ 3: Phân tích ý nghĩa hình ảnh chuyến tàu đêm chạy qua phố huyện trong truyện ngắn “Hai đứa trẻ” của Thạch Lam. “Hai đứa trẻ là một trong những truyện ngắn thường của Thạch Lam. Đọc xong truyện, hình ảnh hai chị em cô bé Liên, nhất hình ảnh chuyến tàu đêm chạy ngang qua phố huyện nghèo cứ vướng víu mãi trong lòng người đọc và gợi bao xúc động nghĩ suy”. b. Mở bài gián tiếp - Mở bài gián tiếp là lối vào bài bằng cách nêu ra một ý khái quát, ý lớn hơn vấn đề đặt ra trong đề bài để khơi gợi, dẫn dắt, bắc cầu vào vấn đề cần nghị luận. Nói cách khác, với cách này người viết bao giờ cũng thông qua một nhịp chuyển, một ý bắc cầu nào đó có liên quan đến vấn đề cần nghị luận để gây sự chú ý rồi mới giới thiệu nội dung luận đề. - Mở bài theo cách này sẽ tạo được sự uyển chuyển, linh hoạt, hấp dẫn cho bài viết. tuy nhiên nếu viết theo mở bài này, học sinh không nắm vững kiến thức lý luận văn học và vốn văn chương sẽ dễ lan man, lặp ý. - Cách mở bài gián tiếp thường dành cho học sinh khá giỏi trở lên. - Một số kiểu mở bài gián tiếp: Ví dụ 1: Phân tích vẻ đẹp nhân vật Huấn Cao trong truyện ngắn Chữ người tử tù của Nguyễn Tuân. “Nguyễn Tuân là nhà văn tài hoa, uyên bác, ông đã xây dựng được những hình tượng nghệ thuật đẹp về những con người tài hoa, nghệ sĩ, nhân cách cao thượng. Một trong những nhân vật để lại xúc cảm thẩm mĩ và ấn tượng sâu sắc trong lòng người tiếp nhận văn chương là nhân vật Huấn Cao trong truyện ngắn Chữ người tử tù.” Mở bài theo phương pháp quy nạp: Phương pháo quy nạp là phương pháp nêu vấn đề nhỏ hơn vấn đề nêu ra trong luận đề rồi tổng hợp lại thành vấn đề lớn càn nghị luận. Đây là cách lập luận đi từ những ý nhỏ rồi bắc cầu sang ý lớn là vấn đề mà đề bài yêu cầu giải quyết. Ví dụ 2: Phân tích ý nghĩa hình ảnh chuyến tàu đêm trong tác phảm Hai đứa trẻ của Thạch Lam. “Những năm ba mươi, trong nền văn xuôi Việt Nam, Thạch Lam được đánh giá là cây bút truyện ngắn sắc sảo và tế nhị. Truyện ngắn Thạch Lam thường giản dị mà giàu chất thơ, nhiều
- khi không cốt truyện mà có những hình ảnh đọng nhiều ngẫm nghĩ sâu xa về đời sống. Người ta thường nhớ đến truyện ngắn Hai đứa trẻ của Thạch Lam với hình ảnh chuyến tàu đêm đi ngang qua phố huyện chỉ vài ba phút trong đêm, nhưng là hình ảnh nhiều ấn tượng.” 1.2. Yêu cầu, đặc điểm - Mở bài có 3 phần: + Phần đầu đoạn: viết câu dẫn dắt gần gũi và có liên quan đến trọng tâm của vấn đề. + Phần giữa đoạn: nêu luận điểm trung tâm (vấn đề chính) + Phần cuối đoạn: nêu giới hạn vấn đề và phạm vi tư liệu. - Cách viết mở bài: + Dẫn dắt + Nêu vấn đề cần nghị luận (luận đề) + Giới hạn phạm vi vấn đề - Yêu cầu cơ bản: + Ngắn gọn: dẫn dắt vài ba câu ngắn gọn, không lấn sang phần kiến thức thân bài. + Đầy đủ: Một mở bài hay đầy đủ là phải nêu được vấn đề nghị luận, câu nói dẫn dắt, ngắn nhưng đầy đủ ý mới quan trọng, vấn đề chính cũng như nội dung quan trọng bắt buộc phải nhắc đến phần mở bài. Đọc xong mở bài người đọc phải xác định được bài viết bàn về vấn đề gì. + Độc đáo: Độc đáo trong một mở bài hay là gây được sự chú ý cho người đọc về vấn đề cần viết bằng những liên tưởng khác lạ, tưởng tượng phong phú trong các bài văn miêu tả, kể tạo sự thu hút bất ngờ cho người đọc. Sự độc đáo trong mở bài khiến bài viết của các bạn trở nên nổi bật và nhận được sự chú ý và theo dõi của mọi người về chất lượng bài văn + Tự nhiên: Dùng ngôn từ giản dị, mộc mạc trong cách viết bài. - Những điều cần tránh khi viết mở bài: + Tránh dẫn dắt vòng vo, đi quá xa rồi mới trở lại vấn đề cần nghị luận. + Tránh dẫn dắt lạc chủ đề, không liên quan đến nội dung bài viết (vấn đề cần nghị luận) + Tránh dài dòng, lặp ý khi triển khai phần thân bài. + Tránh gượng ép, tạo cho người đọc cảm giác giả tạo 2. Lý thuyết đoạn kết bài 2.1. Khái niệm - Kết bài trong văn nghị luận là một phần khá quan trọng bởi đây là phần sẽ tạo dư âm cho bài viết. Nếu kết bài có sức nặng sẽ tạo nên những cảm xúc rất tốt cho người đọc. Phần kết bài có nhiệm vụ tổng kết, đánh giá vấn đề đặt ra ở mở bài và đã giải quyết ở thân bài. Phần này
- góp phần tạo tính hoàn chỉnh, trọn vẹn cho bài văn. Tùy mục đích nghị luận, người viết có thể sử dụng một trong các cách kết bài sau đây. - Kết bài bằng cách tóm lược: Là kiểu kết bài mà ở đó người viết tóm tắt quan điểm, tổng hợp những ý chính đã nêu ở thân bài. Cách kết bài này dễ viết hơn và thường được sử dụng nhiều hơn. - Kết bài bằng cách bình luận mở rộng và nâng cao: Là kiểu kết bài trên cơ sở quan điểm chính của bài viết, bằng liên tưởng, vận dụng, người viết phát triển, mở rộng nâng cao vấn đề. Theo kiểu kết bài này, người viết phải triển khai sáng tạo, mở rộng vấn đề cần nghị luận. - Trên đây là một số kiểu kết bài cần hình thành cho học sinh, tùy vào đối tượng và mục đích nghị luận, người viết có thể chọn một cách kết bài phù hợp. + Với đối tượng học sinh trung bình: Các em lựa chọn cách kết bài bằng cách tóm lược. + Với đối tượng học sinh khá giỏi: Các em lựa chọn kết bài bằng cách mở rộng và nâng cao. 2.2. Yêu cầu, đặc điểm - Yêu cầu cơ bản: + Thể hiện đúng quan điểm đã trình bày ở thân bài. Giống như phần mở bài, phần này chỉ nêu lên những ý khái quát, không trình bày lan man, dài dòng hoặc lặp lại sự giảng giải, minh họa, nhận xét một cách chi tiết như ở phần thân bài. + Một kết bài thành công không chỉ là nhiệm vụ "gói lại" mà còn phải "mở ra" - khơi lại suy nghĩ, tình cảm của người đọc bên cạnh đó mở ra một trường liên tưởng các vấn đề xoay quanh nội dung chính của bài viết. + Khơi gợi suy nghĩ hay tạo dư ba trong lòng người đọc; là câu văn khi đã khép lại vẫn khiến cho người đọc day dứt, trăn trở, hướng về nó. + Kết bài thiên về tổng kết, đánh giá vấn đề nghị luận không nên quá ngắn hoặc quá dài. - Một số cách thức kết bài: + Kết bài trực tiếp: đánh giá chung đặc sắc giá trị nội dung và nghệ thuật của tác phẩm. Nhận xét đóng góp, vai trò của tác giả cho nền văn học. + Kết bài gián tiếp: liên hệ vấn đề có liên quan từ đó đánh giá, khái quát đặc sắc giá trị nội dung và nghệ thuật của tác phẩm. Nhận xét đóng góp, vai trò của tác giả cho nền văn học. + Kết bài tóm lược: Tóm tắt quan điểm của người viết ở phần thân bài. Liên hệ các tác phẩm cùng đề tài, thể loại. + Kết bài phát triền: Kết bài có sự mở rộng thêm và sáng tạo vấn đề đặt ra trong bài nghị luận. + Kết bài vận dụng: Nêu ra những suy nghĩ, quan điểm, đánh giá của người nghe, người đọc về vấn đề được thể hiện trong bài nghị luận.
- + Kết bài liên tưởng: Sử dụng các quan điểm, đề tài tương tự để khái quát lại vấn đề cần nghị luận. + Kết bài tổng hợp: Vận dụng cách kết hợp tóm lược, liên tưởng, phát triển. - Dẫn chứng một số kiểu kết bài: Ví dụ 1: Kết bài tóm lược Như vậy, thông qua cảm hứng lãng mạn và tính chất bi tráng, chân dung người lính Tây Tiến đã được khắc họa thành công qua những vẻ đẹp hào hoa, lãng mạn, bi hùng và trở thành bức tượng đài bất tử theo thời gian và trường tồn cùng lịch sử dân tộc trong những năm tháng kháng chiến gian khổ nhưng vẻ vang của đất nước. Tác phẩm còn thể hiện tài năng của nhà thơ trong việc sử dụng ngôn từ, hình ảnh, tạo nên những vần thơ đậm chất hội họa và âm nhạc của tác giả Quang Dũng. Ví dụ 2: Kết bài bình luận mở rộng và nâng cao “Khi ta ở, chi là nơi đất ở Khi ta đi, đất đã hoá tâm hồn!” Cũng giống Quang Dũng, với tình yêu, sự gắn bó, những câu thơ của Chế Lan Viên trong bài “Tiếng hát con tàu” cũng một phần thể hiện được tình cảm, sự xúc động của mỗi con người khi nhắc đến “quê hương thứ 2”. Bằng cảm hứng lãng mạn, bi hùng qua mạch cảm xúc chủ đạo là nỗi nhớ, bài thơ “Tây Tiến” đã khắc họa thành công hình tượng nhân vật trữ tình đầy cảm xúc với nỗi nhớ khi đong đầy trong nỗi niềm da diết, khi luyến tiếc trong sự bâng khuâng. Đồng thời, thông qua dòng hồi tưởng đầy xúc động trong nỗi nhớ về binh đoàn Tây Tiến, bài thơ đã đã thể hiện tình yêu sâu sắc, mãnh liệt và sự gắn bó máu thịt của nhà thơ Quang Dũng đối với binh đoàn Tây Tiến cũng như mảnh đất, thiên nhiên và con người núi rừng Tây Bắc. 3. Bảng mô tả ma trận kiểm tra, đánh giá theo các mức độ nhận thức Mức độ Mức độ Mức độ thông Mức độ vận Nội dung vận dụng nhận biết hiểu dụng thấp cao Mở bài Nhận biết được Hiểu thế nào là mở đoạn mở bài trong bài đúng và hay. Viết được các bài văn nghị luận. phần mở bài, kết Kết bài Nhận biết được Hiểu thế nào là kết bài đúng. đoạn kết bài trong bài đúng và hay. bài văn nghị luận.
- Mức độ Mức độ Mức độ thông Mức độ vận Nội dung vận dụng nhận biết hiểu dụng thấp cao Luyện tập Viết được các phần mở bài, kết bài hay. II. BÀI TẬP 1. Viết mở bài trực tiếp và gián tiếp a. Viết mở bài trực tiếp và gián tiếp cho các đề sau Đề bài 1: Trong truyện ngắn Chiếc thuyền ngoài xa, nhà văn Nguyễn Minh Châu viết: Lúc bấy giờ trời đầy mù từ ngoài biển bay vào[ ] do cái đẹp tuyệt đỉnh của ngoại cảnh vừa mang lại. (Ngữ văn 12, Tập hai, NXB Giáo dục Việt Nam, 2020, tr. 70-71). Anh/ chị hãy phân tích đoạn trích trên; từ đó, liên hệ hình ảnh chiếc thuyền trong đoạn trích với hình ảnh chiếc thuyền đang chống chọi với sóng gió giữa phá được miêu tả trong truyện để rút ra thông điệp về mối quan hệ giữa nghệ thuật và cuộc sống. Đề bài 2: Khi ta lớn lên Đất nước đã có rồi Đất Nước có trong những cái “ngày xửa ngày xưa ”mẹ thường hay kể Đất Nước bắt đầu với miếng trầu bây giờ bà ăn Đất Nước lớn lên khi dân mình biết trồng tre mà đánh giặc Tóc mẹ thì bới sau đầu Cha mẹ thương nhau bằng gừng cay muối mặn Cái kèo, cái cột thành tên Hạt gạo, phải một nắng hai sương xay, giã, giần, sàng Đất Nước có từ ngày đó (Trích Đất nước – Nguyễn Khoa Điềm, Ngữ văn 12, tập 1, trang 118, NXB Giáo dục, 2010 ) Cảm nhận của Anh(chị) về đoạn thơ trên. Từ đó, bình luận ngắn gọn về việc vận dụng chất
- liệu văn học dân gian trong đoạn thơ. b. Hướng dẫn Mở bài trực tiếp đề 1: Nguyễn Minh Châu là cây bút văn xuôi tài năng của văn học Việt Nam hiện đại. Sau năm 1975, ông là người mở đường tinh anh, cây bút tiên phong trong văn học thời kì đổi mới. “Chiếc thuyền ngoài xa” là một trong những truyện in đậm phong cách tự sự triết lí của Nguyễn Minh Châu, thể hiện những chiêm nghiệm sâu sắc của ông về nghệ thuật và cuộc đời. Đoạn trích gắn với phát hiện thứ nhất của nghệ sĩ Phùng. Từ hình ảnh chiếc thuyền trong đoạn trích và hình ảnh chiếc thuyền đang chống chọi với sóng gió giữa phá được miêu tả trong truyện, chúng ta nhận ra thông điệp sâu sắc về mối quan hệ giữa nghệ thuật và cuộc sống. Mở bài gián tiếp đề 1: Nhà văn Nam Cao từng nói: “Nghệ thuật không cần phải là ánh trăng lừa dối, không nên là ánh trăng lừa dối! Nghệ thuật chỉ có thể là tiếng đau khổ kia, thoát ra từ những kiếp lầm than ” Nghệ thuật là lĩnh vực của sự sáng tạo mới mẻ nhưng phải gắn với con người thì mới giữ nguyên được giá trị chuẩn mực vốn có. “Chiếc thuyền ngoài xa” của Nguyễn Minh Châu là một tác phẩm như thế. Nguyễn Minh Châu – người mở đường tinh anh và tài năng của văn học Việt Nam thời kì đổi mới. “Chiếc thuyền ngoài xa” viết vào những năm đầu thời kì đổi mới, là một trong những truyện in đậm phong cách tự sự triết lí của Nguyễn Minh Châu, thể hiện những chiêm nghiệm sâu sắc của ông về nghệ thuật và cuộc đời. Đoạn trích gắn với phát hiện thứ nhất của nghệ sĩ Phùng. Từ hình ảnh chiếc thuyền trong đoạn trích và hình ảnh chiếc thuyền đang chống chọi với sóng gió giữa phá được miêu tả trong truyện, chúng ta nhận ra thông điệp sâu sắc về mối quan hệ giữa nghệ thuật và cuộc sống. Mở bài trực tiếp đề 2: Nguyễn Khoa Điềm là nhà thơ trẻ, trưởng thành trong thời kỳ kháng chiến chống Mỹ. Thơ ông thế hiện cảm xúc và suy tư sâu lắng của người trí thức về đất nước, con người Việt Nam. “Đất nước” của Nguyễn Khoa Điềm trích từ chương V trường ca “Mặt đường khát vọng” là một trong những vần thơ đẹp về tình yêu quê hương đất nước. Trường ca “Mặt đường khát vọng” được tác giả hoàn thành ở chiến khu Trị - Thiên năm 1971, in lần đầu năm 1974. Bản trường ca viết về sự thức tỉnh của tuồi trẻ đô thị vùng tạm chiếm miền Nam ý thức non sông đất nước, về sứ mệnh của thế hệ mình, xuống đường đấu tranh chống đế quốc Mĩ xâm lược. Đoạn trích trên là một trong những đọan thơ hay nhất về đề tài đất nước trong thơ Việt Nam hiện đại. Thể hiện tài năn nghệ thuật tài tình của tác giả. Mở bài gián tiếp đề 2:
- Đất Nước là một đề tài muôn thuở của thơ ca và nghệ thuật. Hình hài đất nước cũng được tạo thành nhiều vẻ đẹp khác nhau từ những góc nhìn khác nhau. Ta đã từng gặp một Đất Nước hóa thân trong mảnh hồn quê Kinh Bắc đậm màu sắc dân gian mà quằn quại dưới gót giày xâm lược trong Bên kia sông Đuống - Hoàng Cầm; một Đất Nước tươi đẹp và đau thương, bất khuất trong thơ Nguyễn Đình Thi thì hôm nay ta lại bắt gặp Đất Nước bình dị thân thương trong trang thơ của Nguyễn Khoa Điềm với bao ý tình tươi đẹp, mà mỗi dòng thơ như dòng suối ngọt ngào chảy vào hồn ta đầy thương mến. Đoạn trích trên là một trong những đọan thơ hay nhất về đề tài đất nước trong thơ Việt Nam hiện đại. Thể hiện tài năn nghệ thuật tài tình của tác giả. Mở bài gián tiếp đề 2: “Ôi Tổ quốc ta yêu như máu thịt Như mẹ như cha như vợ như chồng Ôi Tổ quốc nếu cần ta chết Cho mỗi ngôi nhà ngọn núi dòng sông” Lịch sử dân tộc ta đã trải qua những năm tháng kháng chiến trường kỳ gian khổ để có được độc lập tự do và hạnh phúc như ngày hôm nay. Trong những tháng ngày mưa bom bão đạn, những giây phút thiêng liêng một thời khói lửa, ta càng trân trọng hơn những tiếng thơ hay của các văn nghệ sĩ viết về quê hương đất nướ, về cách mạng. Một trong số đó không thể không kể tới “Đất nước” của Nguyễn Khoa Điềm. Đoạn trích trên là một trong những đọan thơ hay nhất về đề tài đất nước trong thơ Việt Nam hiện đại. Thể hiện tài năn nghệ thuật tài tình của tác giả. * Nhận xét: • Mở bài trực tiếp là mở bài trực tiếp: đi từ tác giả, tác phẩm đến việc giới thiệu vấn đề cần nghị luận. Các câu văn đều là câu trần thuật. • Mở bài gián tiếp là mở bài gián tiếp: có sự dẫn dắt liên tưởng từ nhận xét của tác giả. Tác giả dẫn dắt từ vấn đề nghệ thuật. Mặt khác, tác giả sử dụng nhiều câu hỏi gợi mở, đặc biệt, vấn đề chính của bài viết cũng được diễn đạt dưới dạng một câu hỏi tạo sự tò mò. 2. Viết kết bài a. Viết kết bài cho các đề sau Đề bài 1: Từ cuộc đời của các nhân vật phụ nữ trong hai tác phẩm “Vợ nhặt” (Kim Lân) và “Vợ chồng A Phủ” (Tô Hoài), anh (chị) hãy phát biểu suy nghĩ của mình về số phận người phụ nữ xưa và nay. Đề bài 2: “Tây Tiến đoàn binh không mọc tóc,
- Quân xanh màu lá dữ oai hùm. Mắt trừng gửi mộng qua biên giới, Đêm mơ Hà Nội dáng kiều thơm. Rải rác biên cương mồ viễn xứ, Chiến trường đi chẳng tiếc đời xanh, Áo bào thay chiếu anh về đất, Sông Mã gầm lên khúc độc hành.” Cảm nhận vẻ đẹp hình tượng người lính Tây Tiến. Bình luận ngắn gọn về nét độc đáo của hình tượng này. (Trích Tây Tiến – Quang Dũng, Ngữ văn 12, tập một, NXB Giáo dục Việt Nam, 2017, tr. 69-70) b. Hướng dẫn Kết bài bằng cách tóm lược đề 1: “Như vậy, các nhân nữ trong hai tác phẩm “Vợ nhặt” và “Vợ chồng A Phủ” có nhiều điểm chung. Họ đều là những người phụ nữ có số phận bất hạnh, cơ cực nhưng trong tâm hồn luôn tiềm tàng một sức sống mạnh mẽ và ý thức vươn lên. Trong xã hội hiện nay, số phận của người phụ nữ đang dần chuyển biến theo hướng tích cực. Họ đã biết tự khẳng định vị trí của mình trong mọi khía cạnh của xã hội, đời sống.” Kết bài bằng cách bình luận mở rộng và nâng cao đề 1: “Làm thế nào để một nửa thế giới luôn được sống hạnh phúc và ngày càng được hạnh phúc hơn? Làm thế nào để tất cả phụ nữ Việt Nam luôn ngập tràn trong tiếng cười? Đó là những câu hỏi không dành riêng cho bất cứ ai, không dành riêng cho phái nam mà chính những người phụ nữ cũng phải trả lời. Hai người phụ nữ với hai số phận khác nhau nhưng họ đều toát lên những phẩm chất cao đẹp và khát vọng sống mãnh liệt. Đồng thời qua số phận của Mị và chị vợ nhặt ta nhận ra dù trong bất kì hoàn cảnh lịch sử nào người phụ nữ luôn xứng đáng được tôn trọng.” Kết bài bằng cách tóm lược đề 2: Như vậy, thông qua sự kết hợp hài hòa giữa bút pháp lãng mạn và hiện thực, đoạn trích trong bài thơ “Tây Tiến” của Quang Dũng đã tái hiện thành công bức tranh thiên nhiên và bức tượng đài người lính kiên cường, bất khuất. Thiên nhiên núi rừng hiện lên với vẻ đẹp vừa hoang sơ, hùng vĩ, vừa thơ mộng, trữ tình, còn con người được phác họa qua những nét vẽ vừa hòa hoa, phong nhã, vừa bi tráng, kiêu hùng. Qua đó thấy được thành công trong nghệ thuật sử dụng từ
- ngữ độc đáo của Quang Dũng. Kết bài bằng cách bình luận mở rộng và nâng cao đề 2: “Tây Tiến biên cương mờ khói lửa Quân đi lớp lớp động cây rừng Và bài thơ ấy, con người ấy Vẫn sống muôn đời với núi sông” Bằng cảm hứng lãng mạn và âm hưởng bi tráng, đoạn thơ bộc lộ về những người lính Tây Tiến giàu ý chí, vững niềm tin, nghị lực phi thường, sẵn sàng hy sinh vì sự nghiệp cách mạng. Nửa thế kỷ trôi qua, nhiều sự việc phôi pha cùng năm tháng, nhưng bài thơ “Tây Tiến” vẫn còn đó, sừng sững như một tượng đài bất tử về người chiến sĩ vô danh trong cuộc kháng chiến chống Pháp. * Nhận xét: • Kết bài bằng cách tóm lược: Là kiểu kết bài mà ở đó người viết tóm tắt quan điểm, tổng hợp những ý chính đã nêu ở thân bài sau đó khái quát thành vấn đề chính và kết thúc bài viết. • Kết bài bằng cách bình luận mở rộng và nâng cao: Là kiểu kết bài trên cơ sở quan điểm chính của bài viết, bằng liên tưởng, vận dụng những đề tài, chủ đề có nội dung tương tự, người viết phát triển, mở rộng nâng cao vấn đề rồi kết thúc bài viết.

