Ôn tập TN THPT môn Ngữ văn - Chuyên đề: Cách làm phần nhận xét nâng cao trong câu nghị luận văn học

docx 35 trang Nguyệt Quế 08/01/2026 110
Bạn đang xem 30 trang mẫu của tài liệu "Ôn tập TN THPT môn Ngữ văn - Chuyên đề: Cách làm phần nhận xét nâng cao trong câu nghị luận văn học", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên.

File đính kèm:

  • docxon_tap_tn_thpt_mon_ngu_van_chuyen_de_cach_lam_phan_nhan_xet.docx

Nội dung tài liệu: Ôn tập TN THPT môn Ngữ văn - Chuyên đề: Cách làm phần nhận xét nâng cao trong câu nghị luận văn học

  1. SỞ GD&ĐT BẮC NINH ÔN TẬP TNTHPT NĂM HỌC 2022-2023 Trường THPT Lương Tài số 2 CHUYÊN ĐỀ SỐ 9 Môn: Ngữ văn CHUYÊN ĐỀ 9: CÁCH LÀM PHẦN NHẬN XÉT NÂNG CAO TRONG CÂU NGHỊ LUẬN VĂN HỌC A. LÝ THUYẾT I. Khái niệm Nghị luận văn học là dạng văn bản dùng để bày tỏ sự cảm thụ tác phẩm văn học theo suy nghĩ của cá nhân, là những lý lẽ để đánh giá, phân tích, bàn bạc về vấn đề thuộc lĩnh vực văn học để khám phá thế giới nội tâm của tác giả, đồng thời tìm ra những giá trị thuyết phục người khác nghe theo quan điểm, ý kiến cá nhân của mình. II. Một số yêu cầu chung cần nắm khi viết một bài văn nghị luận văn học Tìm hiểu tác giả, hoàn cảnh sáng tác, năm tháng tác phẩm ra đời. Tìm hiểu tâm tư tình cảm tác giả. Các vấn đề bàn luận là các vấn đề bàn bạc về văn học, có thể là tác giả, tác phẩm, ý kiến nhận định về tác phẩm, nhân vật trong tác phẩm. Đối với thơ thì cần chú ý đến hình thức như nhịp điệu, cách gieo vần, cấu trúc, nghệ thuật sử dụng ngôn từ Lưu ý nhiều đến tính thẩm mỹ trong tác phẩm. Đối với tác phẩm văn xuôi thì chú ý đến cốt truyện, nhân vật, tình tiết, hình tượng điển hình, tình huống truyện. Cần khai thác nội dung hiện thực và nội dung tư tưởng của tác phẩm, thông điệp của tác giả. Các dẫn chứng cần chính xác, chọn lọc. Từ năm 2015, câu nghị luận văn học trong đề thi tốt nghiệp THPT môn Ngữ văn thường thêm một lệnh phụ bên cạnh lệnh chính. Năm 2021, câu lệnh phụ trong đề là: "Nhận xét vẻ đẹp nữ tính trong thơ Xuân Quỳnh" (lần 1); "Nhận xét cảm hứng lãng mạn của Quang Dũng trong đoạn thơ" (lần 2). Lệnh phụ câu nghị luận văn học đề thi tham khảo 2022 yêu cầu "nhận xét tư tưởng nhân đạo của nhà văn Kim Lân qua đoạn trích". Đề thi THPT năm 2022 ra lệnh câu hỏi phụ là: Liên hệ hình ảnh chiếc thuyền trong đoạn trích với hình ảnh chiếc thuyền đang chống chọi với sóng gió giữa phá được miêu tả trong truyện để rút ra thông điệp về mối quan hệ giữa nghệ thuật và cuộc sống Đây là phần nâng cao, chiếm 5% số điểm trong bài, phân biết học sinh khá giỏi nên yêu cầu cao hơn. III. Một số ví dụ về câu 5 điểm trong đề thi và đề minh họa kì thi THPT quốc gia. 1
  2. Đề thi THPTQG năm 2019: “Trong những dòng sông đẹp ở các nước mà tôi thường nghe nói đến, hình như chỉ sông Hương là thuộc về một thành phố duy nhất. Trước khi về đến vùng châu thổ êm đềm, nó đã là một bản trường ca của rừng già, rầm rộ giữa bóng cây đại ngàn, mãnh liệt qua những ghềnh thác, cuộn xoáy như cơn lốc vào những đáy vực bí ẩn, và cũng có lúc nó trở nên dịu dàng và say đắm giữa những dặm dài chói lọi màu đỏ của hoa đỗ quyên rừng. Giữa lòng Trường Sơn, sông Hương đã sống một nửa cuộc đời của mình như một cô gái Di-gan phóng khoáng và man dại. Rừng già đã hun đúc cho nó một bản lĩnh gan dạ, một tâm hồn tự do và trong sáng. Nhưng chính rừng già nơi đây, với cấu trúc đặc biệt có thể lí giải được về mặt khoa học, đã chế ngự sức mạnh bản năng ở người con gái của mình để khi ra khỏi rừng, sông Hương nhanh chóng mang một sắc đẹp dịu dàng và trí tuệ, trở thành người mẹ phù sa của một vùng văn hóa xứ sở. Nếu chỉ mải mê nhìn ngắm khuôn mặt kinh thành của nó, tôi nghĩ rằng người ta sẽ không hiểu một cách đầy đủ bản chất của sông Hương với cuộc hành trình gian truân mà nó đã vượt qua, không hiểu thấu phần tâm hồn sâu thẳm của nó mà dòng sông hình như không muốn bộc lộ, đã đóng kín lại ở cửa rừng và ném chìa khóa trong những hang đá dưới chân núi Kim Phụng” (Ai đã đặt tên cho dòng sông? – Hoàng Phủ Ngọc Tường, Ngữ văn 12, Tập một, NXB Giáo dục Việt Nam, 2018, tr. 198) Cảm nhận của anh/ chị về hình tượng sông Hương trong đoạn trích trên. Từ đó, nhận xét cách nhìn mang tính phát hiện về dòng sông của nhà văn Hoàng Phủ Ngọc Tường. Đề thi minh họa THPTQG năm 2021: “Phải nhiều thế kỉ qua đi, người tình mong đợi mới đến đánh thức người gái đẹp nằm ngủ mơ màng giữa cánh đồng Châu Hỏa đầy hoa dại. Nhưng ngay từ đầu vừa ra khỏi vùng núi, sông Hương đã chuyên dùng một cách liên tục, vòng giữa khúc quanh đột ngột, uốn mình theo những đường cong thật mềm, như một cuộc tìm kiếm có ý thức để đi tới nơi gặp thành phố tương lai của nó. Từ ngã ba Tuấn, sông Hương theo hướng nam bắc qua điện Hòn Chén; vấp Ngọc Trản, nó chuyển hướng sang tây bắc, vòng qua thềm đất bãi Nguyệt Biểu, Lương Quản rổi đột ngột vẽ một hình cũng thật tròn về phía đông bắc, ôm lấy chân đồi Thiên Mụ, xuôi dân về Huế. Tin Tuân về đây, sông Hương vẫn đi trong dư vang của Trường Sơn, vượt qua một lòng vực sâu dưới chân núi Ngọc Trản để sắc nước trở nên xanh thắm, và từ đó nó trôi đi giữa hai dây đổi sừng sững như thành quách, 2
  3. với những điểm cao đột ngột như Vọng Cảnh, Tam Thai, Lựu Bảo mà từ đó, người ta luôn luôn nhìn thấy dòng sông mềm như tấm lụa, với những chiếc thuyền xuôi ngược chi bé vừa bằng con thoi. Những ngọn đồi này tạo nên những mảng phản quang nhiều màu sắc trên nền trời tây nam thành phố, "sớm xanh, trưa vàng, chiểu tím" như người Huế thường miêu tả. Giữa đám quần sơn lô xô ấy, là giấc ngủ nghìn năm của những vua chúa được phong kín trong lòng những rừng thông u tịch và niềm kiêu hãnh âm u của những lăng tẩm đồ sộ tỏa lan khắp cả một vùng thượng lưu "Bốn bề núi phủ mây phong - Mảnh trăng thiên cổ bóng tùng Vạn Niên". Đó là vẻ đẹp trầm mặc nhất của sông Hương, như triết lí, như cổ thi, kéo dài mãi đến lúc mặt nước phẳng lặng của nó gặp tiếng chuông chùa Thiên Mụ ngân nga tận bờ bên kia, giữa những xóm làng trung du bát ngát tiếng gà ” (Trích Ai đã đặt tên cho dòng sông? Hoàng Phủ Ngọc Tường, Ngữ văn 12, Tập một, NXB Giáo dục Việt Nam, 2020, tr. 198-199.) Phân tích hình tượng sông Hương trong đoạn trích trên. Từ đó, nhận xét về tính trữ tình của bút kí Hoàng Phủ Ngọc Tường. Đề thi THPT năm 2022 “Lúc bấy giờ trời đầy mù từ ngoài biển bay vào. Lại lác đác mấy hạt mưa. Tôi rúc vào bên bánh xích của một chiếc xe tang để tránh mưa, đang lúi húi thay phim, lúc ngẩng lên thấy một chuyện hơi lạ: Một chiếc thuyền lưới vó mà tôi đoán là trong nhóm đánh cá ban nãy đang chèo thẳng vào trước mặt tôi. Có lẽ suốt một đời cầm máy ảnh chưa bao giờ tôi được thấy một cảnh "đắt" trời cho đến như vậy: Trước mặt tôi là một bức tranh mực tàu của một danh họa thời cổ. Mũi thuyền in một nét mơ hồ lòe nhòe vào bầu sương mù trắng như sữa có pha đôi chút màu hồng hồng do ánh mặt trời chiếu vào. Vài bóng người lớn lẫn trẻ con ngồi im phăng phắc như tượng trên chiếc mui khum khum, đang hướng mặt vào bờ. Tất cả khung cảnh ấy nhìn qua những cái mắt lưới và tấm lưới nằm giữa hai chiếc gọng vó hiện ra dưới một hình thù y hệt cánh một con dơi, toàn bộ khung cảnh từ đường nét đến ánh sáng đều hài hòa và đẹp, một vẻ đẹp thực đơn giản và toàn bích khiến đứng trước nó tôi trở nên bối rối, trong trái tim như có cái gì bóp thắt vào. Chẳng biết ai đó lần đầu đã phát hiện ra bản thân cái đẹp chính là đạo đức? Trong giây phút bối rối tôi tưởng chính mình vừa khám phá thấy cái chân lí của sự toàn thiện, khám phá thấy cái khoảnh khắc trong ngần của tâm hồn. 3
  4. Chẳng phải lựa chọn xê dịch gì nữa, tôi gác máy lên bánh xích của chiếc xe tăng hỏng bấm “liên thanh” một hồi hết một phần tư cuốn phim, thu vào chiếc Pra-ti-ca cái khoảnh khắc hạnh phúc tràn ngập tâm hồn mình, do cái đẹp tuyệt đỉnh của ngoại cảnh vừa mang lại.” (Trích Chiếc thuyền ngoài xa, Nguyễn Minh Châu, Ngữ văn 12, Tập hai, NXB Giáo dục, 2020, tr.70-71.) Anh chị hãy phân tích đoạn trích trên; từ đó, liên hệ hình ảnh chiếc thuyền trong đoạn trích với hình ảnh chiếc thuyền đang chống chọi với sóng gió giữa phá được miêu tả trong truyện để rút ra thông điệp về mối quan hệ giữa nghệ thuật và cuộc sống. Nhận xét: - Đề bài câu NLVH có 2 yêu cầu: + Yêu cầu chính: cảm nhận, phân tích đoạn trích/ hoặc một nội dung được xác định trong đoạn trích. + Yêu cầu phụ: câu hỏi phía sai (phần in đậm trong các đề nêu ví dụ) - Yêu cầu của câu hỏi phụ: + Có thể có 1 hoặc 2 lệnh (thường là 1), là phần đánh giá nâng cao vấn đề được rút ra từ đoạn trích, có liên hệ với đoạn trích hoặc cả tác phẩm. + Câu hỏi phụ chiếm 5% điểm, là câu hỏi dùng để phân hóa học sinh giỏi nên câu hỏi thuộc phần vận dụng nâng cao, là điều kiện để bài làm được >= 9 điểm, đòi hỏi HS phải hiểu sâu và tổng hợp được kiến thức. Như vậy, dù chiếm một lượng điểm không lớn, nhưng câu hỏi phụ mang tính chất phân hóa cao, quan trọng đối với các thi sinh có nguyện vọng xét đại học bằng điểm thi THPT Quốc gia. IV. Một số định nghĩa thường xuất hiện trong phần câu hỏi phụ của nghị luận văn học 1. Cái nhìn hiện thực Cái nhìn hiện thực của tác phẩm văn học là toàn bộ hiện thực được nhà văn phản ánh trong tác phẩm văn học, tùy vào ý đồ sáng tạo mà hiện tượng đó có thể đồng nhất với thực tại cuộc sống hoặc có sự khúc xạ ở những mức độ khác nhau. Tuy nhiên, hầu hết hiện thực trong các tác phẩm văn chương đều là hiện thực được hư cấu. Nó có ý nghĩa phản ánh hiện thực của một thời kỳ trên nhiều góc diện khác nhau hơn là các hiện thực 4
  5. cụ thể. Cái nhìn hiện thực thường mang sức mạnh tố cáo những thế lực tội ác trong xã hội đẩy con người vào hoàn cảnh đau khổ, bi đát. 2. Chiều sâu nhân đạo Nhân đạo là một giá trị cơ bản của những tác phẩm văn học chân chính được tạo nên bởi niềm cảm thông sâu sắc của nhà văn với nỗi đau của những con người, những cảnh đời bất hạnh trong cuộc sống. Đồng thời, nhà văn còn thể hiện sự nâng niu, trân trọng với những nét đẹp trong tâm hồn và niềm tin khả năng vươn dậy của con người dù trong bất kỳ hoàn cảnh nào của cuộc đời. Thông qua chiều sâu nhân đạo, tác phẩm phần nào cũng cất lên tiếng nói phê phán, tố cáo xã hội nhiều ngang trái. 3. Nghệ thuật miêu tả tâm lí Tâm lí là những suy nghĩ, cảm xúc, tâm trạng ở bên trong nội tâm con người, nó vô hình, diễn biến phức tạp và bất ngờ nên không thể nhìn thấy hay nghe thấy bằng các giác quan thông thường. Chính vì thế phải có cái tài thấu hiểu mới có thể miêu tả tâm lí nhân vật một cách cụ thể nhưng thu hút người đọc, để lại cho họ những dấu ấn khó phai mờ. Vì thế, có thể nói rằng “Nghệ thuật miêu tả tâm lí con người là thước đo tài năng người nghệ sĩ”. Nghệ thuật miêu tả tâm lí tức là nhà văn sử dụng các phương tiện, biện pháp nghệ thuật để tái hiện thế giới tâm lí phong phú, phức tạp của con người trong tác phẩm của mình. Các nhà văn thường miêu tả tâm lí nhân vật thông qua hành động, ngôn ngữ, ngoại cảnh và cả ngoại hình. 4. Phong cách tác giả Phong cách tác giả là những nét độc đáo, riêng biệt trong cách cảm nhận và tái hiện đời sống của một tác giả, được thể hiện qua các yếu tố nội dung và hình thức nghệ thuật của từng tác phẩm cụ thể. Yếu tố cốt lõi của phong cách là cái nhìn mang tính phát hiện, in đậm dấu ấn riêng của người nghệ sĩ: “Thế giới được tạo lập không phải một lần, mà mỗi lần người nghệ sĩ độc đáo xuất hiện thì lại một lần thế giới được tạo lập” (M. Pru-xtơ). 5. Cái tôi của tác giả Cái tôi là trung tâm tinh thần của con người, của cá tính người có quan hệ tích cực với thế giới và đối với chính bản thân mình. Chỉ có con người độc lập kiểm soát những hành vi của mình và có khả năng thể hiện tính chủ động toàn diện mới có cái tôi của mình. Vì vậy, cái tôi tự ý thức, tự điều khiển, tự tái tạo lại thế giới và tái tạo lại chính mình để hướng tới sự hoàn thiện. Cái tôi chính là nền tảng của sáng tạo nghệ thuật. 6. Quan niệm nghệ thuật về con người 5
  6. Quan niệm nghệ thuật về con người được hiểu là cách nhìn, cách cảm, cách nghĩ, cách cắt nghĩa lí giải về con người của nhà văn. Đó là quan niệm mà nhà văn thể hiện trong từng tác phẩm. Quan niệm ấy bao giờ cũng gắn liền với cách cảm thụ và biểu hiện chủ quan sáng tạo của tác giả, ngay cả khi miêu tả con người giống hay không giống so với đối tượng. Có thể nói, nó giống như là một chiếc chìa khóa vàng góp phần gợi mở cho chúng ta tất cả những gì bí ẩn trong sáng tạo nghệ thuật của mỗi người nghệ sĩ nói chung và từng thời đại nói riêng 7. Nghệ thuật xây dựng hình tượng Hình tượng nghệ thuật không chỉ là phương thức tái hiện thế giới khách quan, là nhân tố góp phần truyền tải thông điệp của tác giả tới mọi người mà còn là tâm hồn, bản ngã của người nghệ sĩ, nó khẳng định phong cách, cái tôi của người nghệ sĩ trên con đường sự nghiệp của mình. Xây dựng hình tượng là quá trình sáng tạo dựa trên ý tưởng và sự ước lệ. Nghệ thuật xây dựng hình tượng là toàn bộ những phương thức nghệ thuật được tác giả sử dụng trong quá trình sáng tạo ấy. 8. Bút pháp nghệ thuật Bút pháp vốn là thuật ngữ của thư pháp – nghệ thuật viết chữ Nho, chỉ cách cầm bút lông, cách đưa đẩy nét bút để tạo dáng nét chữ đẹp. Trong văn học, bút pháp là cách thức hành văn, dùng chữ, bố cục, cách sử dụng các phương tiện biểu hiện để tạo thành một hình thức nghệ thuật nào đó. Ở đây bút pháp cũng tức là cách viết, lối viết, là một yếu tố của phong cách văn học. Có một số bút pháp hay gặp: Bút pháp hiện thực, bút pháp lãng mạn, bút pháp sử thi 9. Chất thơ (chất trữ tình) trong văn xuôi (truyện, kí) Chất thơ hay còn gọi là “thi vị” tức là có tính chất gợi cảm và gây hứng thú trong thơ, là một khía cạnh của cảm hứng thẩm mĩ nhân văn, phải gắn với cái đẹp. Nói một tác phẩm văn xuôi có chất thơ tức là những ý văn, câu văn, đoạn văn tạo nên sự rung cảm trước cái đẹp của thiên nhiên, cuộc sống con người và nó có khả năng truyền những rung cảm ấy đến với người đọc. Ở văn xuôi chất thơ có ở trong nhiều cấp độ: từ ngữ; bức tranh thiên nhiên; hình tượng nhân vật vượt lên trên thực tại của đời sống, của hoàn cảnh để hướng đến vẻ đẹp của nhân cách, tâm hồn 10. Chất nhạc, chất họa trong thơ Thơ là phương thức trữ tình, là tiếng nói của tình cảm, cảm xúc được thể hiện bằng một cấu tạo ngôn ngữ đặc biệt. Họa có nghĩa là hội họa, đặc trưng ngôn ngữ thơ giàu tính tạo hình, thơ có thể gợi lên trong tâm trí người đọc những hình ảnh, chi tiết sống động, chân 6
  7. thực như bản thân sự sống vốn có, “thi trung hữu hoạ”. Nhạc là âm nhạc, ngôn ngữ thơ giàu nhạc tính. Tính nhạc của thơ thể hiện ở: thể thơ, cách gieo vần, ngắt nhịp, thanh điệu, “thi trung hữu nhạc”. Nhạc là cỗ xe chở hồn thi phẩm (Hoàng Cầm). 11. Cảm hứng sáng tạo Cảm hứng ở đây là luồng ý nghĩ, tư tưởng có tính chất sáng tạo, thường đột nhiên nảy sinh trong lòng nhà văn, nhà thơ. Và có thể ví cảm hứng như là chất men của sự sáng tạo, là một sự thôi thúc, tạo đà cho nhà văn cầm bút viết. Nó là động cơ, nguồn gốc khởi đầu cũng như mục đích đã vạch ra trong suy nghĩ của nhà văn. Cảm hứng sáng tạo là yếu tố hết sức quan trọng trong việc hình thành ý đồ cũng như lúc viết văn, nó góp phần tạo ra nhiều yếu tố mới lạ, độc đáo, nhiều tác phẩm đặc sắc mang cá tính sáng tạo riêng của từng nhà văn. Ngoài ra, câu hỏi phụ có thể là bất cứ một khía cạnh nội dung tư tưởng hoặc nghệ thuật của tác phẩm văn học. V. Cách làm - Về hình thức: Là đoạn văn riêng ở cuối thân bài, lấy yêu cầu nghị luận là câu chủ đề để đảm bảo tính khoa học và có điểm nhấn. Nếu có kiến thức lý luận văn học thì học sinh phải nêu định nghĩa, sau đó sẽ đi vào nhận xét, đánh giá. - Các bước làm cụ thể: + Bước 1: Nêu định nghĩa, biểu hiện chung (nếu có). + Bước 2: Nêu biểu hiện cụ thể, nhận xét, đánh giá (trong đoạn trích hoặc trong cả bài, tùy theo yêu cầu của đề bài. + Bước 3: Nêu ý nghĩa của vấn đề mà câu hỏi phụ nêu ra. - Ví dụ 1: Với lệnh hỏi: nhận xét quan niệm nghệ thuật về con người trong “Chiếc thuyền ngoài xa” có thể triển khai ý như sau: + B1: Quan niệm nghệ thuật về con người là cách nhìn nhận, đánh giá về giá trị, vẻ đẹp của con người mang tính chủ quan, chứa đựng quan niệm thẩm mĩ của người nghệ sĩ. + B2: Như Nguyễn Minh Châu, ông quan niệm, con người là đối tượng trung tâm, mỗi con người đều mang số phận riêng biệt, bị tác động nhiều bởi hoàn cảnh, con người bị cuốn vào những vòng xoáy đa sự đa đoan cuộc đời. Nhưng từ đó, ông nhìn ra vẻ đẹp khuất lấp của họ, tìm thấy hạt ngọc ẩn sâu trong tâm hồn họ. 7
  8. + B3: Quan niệm về con người thể hiện cái nhìn hiện thực tinh tế, đa chiều, sâu sắc. Đặc biệt hơn, nó hé lộ tấm lòng nhân đạo của người nghệ sĩ: có cảm thông, có trân trọng, có day dứt và suy tư về cuộc sống, về tương lai số phận con người, tạo nên những dư ba cho tác phẩm văn chương. - Ví dụ 2: nhận xét cách nhìn mang tính phát hiện về dòng sông của nhà văn Nguyễn Tuân trong Người lái đò sông Đà”. + B1: Cái nhìn mang tính phát hiện là gì? Là sự mới mẻ, độc đáo trong cách khám phá vẻ đẹp dòng sông. + B2: Biểu hiện của nó trong tác phẩm? Nhà văn nhìn Sông Đà không còn là con sông vô tri, vô giác mà là con sông có linh hồn, có cá tính như con người: hung bạo, dữ dằn, hùng vĩ; khám phá vẻ đẹp của dòng sông ở góc độ địa lí nhưng đậm chất văn chương, kết hợp với nhiều ngành nghệ thuật khác như âm nhạc, hội hoạ, điện ảnh, đầy ấn tượng. + B3: Ý nghĩa? Qua hìnhtượng Sông Đà, Nguyễn Tuân thể hiện tình yêu mến tha thiết đối với thiên nhiên đất nước. Với ông, thiên nhiên cũng là một tác phẩm nghệ thuật vô song của tạo hóa. Cảm nhận và miêu tả Sông Đà, Nguyễn Tuân đã chứng tỏ sự tài hoa, uyên bác và lịch lãm. Hình tượng Sông Đà là phông nền cho sự xuất hiện và tôn vinh vẻ đẹp của người lao động trong chế độ mới. B. THỰC HÀNH I. TUYÊN NGÔN ĐỘC LẬP (HỒ CHÍ MINH) Nhận xét về nghệ thuật lập luận của Hồ Chí Minh - Nghệ thuật lập luận là cách xây dựng hệ thống ý và sắp xếp nó theo một trật tự logic hợp lí, có tính thuyết phục, có dẫn chứng xác đáng, có lời lẽ hợp lí, hợp tình - Cách lập luận của Hồ Chí Minh vừa ngắn gọn, súc tích, vừa khéo léo vừa kiên quyết, lập luận sắc sảo, linh hoạt, sáng tạo và đầy sức thuyết phục. + Khéo léo: Hồ Chí Minh tỏ ra trân trọng những tư tưởng tiến bộ, những danh ngôn bất hủ của người Mĩ, người Pháp + Kiên quyết: một mặt Hồ Chí Minh khẳng định quyền độc lập tự do của dân tộc Việt Nam dựa trên những chân lí mà người Mĩ và người Pháp đã đưa ra, đồng thời cảnh báo nếu thực dân Pháp tiến quân xâm lược Việt Nam một lần nữa thì chính họ đã phản bội lại 8
  9. tổ tiên của mình, làm nhơ bẩn lá cờ nhân đạo, thiêng liêng mà những cuộc cách mạng vĩ đại của cha ông họ đã dành được + Lập luận sắc sảo, linh hoạt, sáng tạo: lời suy rộng ra của Người mang tư tưởng lớn của nhà cách mạng. Người đã phát triển quyền lợi của con người lên (thành) quyền tự quyết, quyền bình đẳng của các dân tộc trên thế giới. Đây là một đóng góp riêng của tác giả và cũng là của dân tộc ta vào một trong những trào lưu tư tưởng cao đẹp vừa mang tầm vóc quốc tế, vừa mang ý nghĩa nhân đạo của nhân loại trong thế kỉ XX. - Nghệ thuật lập luận đã tăng tính thuyết phục, tính truyền cảm cho bản tuyên ngôn, trở thành áng văn chính luận mẫu mực. II. TÂY TIẾN (QUANG DŨNG) 1. Nhận xét về chất nhạc, họa trong bài thơ Tây Tiến. - Chất liệu của hội họa là đường nét, màu sắc, hình khối Chất liệu của âm nhạc là âm thanh, nhịp điệu, tiết tấu Nghĩa là nhà thơ dùng màu sắc, đường nét, âm thanh làm phương tiện diễn đạt tình cảm của mình. – Tây Tiến của QD có sự kết hợp hài hòa giữa nhạc và họa: Đoạn thơ sử dụng nhiều từ ngữ tạo hình, kết hợp với nghệ thuật tương phản và những nét vẽ gân guốc: khúc khuỷu, thăm thẳm, heo hút, súng ngửi trời, ngàn thước lên cao, ngàn thước xuống đã vẽ được một bức tranh núi rừng Tây Bắc hiểm trở, dữ dội – Xen vào những nét vẽ gân guốc giàu tính tạo hình là những nét vẽ mềm mại, gam màu lạnh xoa dịu cả khổ thơ. Câu thơ sử dụng toàn thanh bằng: Nhà ai Pha Luông mưa xa khơi – Chất nhạc được tạo ra bởi những âm hưởng đặc biệt, những thanh trắc tạo cảm giác trúc trắc, khó đọc kết hợp với những thanh bằng làm nhịp thơ trầm xuống tạo cảm giác thư thái, nhẹ nhàng. 2. Bình luận ngắn gọn về vẻ đẹp độc đáo của hình tượng người lính Tây Tiến. 9
  10. - Vẻ đẹp độc đáo là nét đẹp có tính chất riêng biệt, sự phân biệt với những hình tượng người lính trong các bài thơ cùng thời kì hoặc khác thời kì – vẻ đẹp trước đó chưa từng xuất hiện. - Biểu hiện: + Xuất thân của đoàn quân TT: đa phần là thanh niên tri thức trẻ tuổi Hà Nội. + Hoàn cảnh chiến đấu: khắc nghiệt, thiếu thốn nhưng họ lạc quan, yêu đời, mang vẻ hào hùng đầy hào hoa của tuổi trẻ. + Hơn thế vẻ đẹp bi tráng thể hiện qua những khó khăn, gian khổ mất mát bi thương cùng với tinh thần hiên ngang, bất khuất, hào hùng của người lính TT. + Giong điệu, âm hưởng đoạn thơ mang màu sắc tráng lệ, hào hùng - Góp phần quan trọng thêm vào bức tượng đài về vẻ đẹp, phẩm chất của anh bộ đội cụ Hồ. 3. Rút ra nhận xét âm hưởng bi tráng về hình tượng người lính trong thơ Quang Dũng - Âm hưởng bi tráng hội tụ trong mình nó yếu tố Bi và yếu tố Tráng; có mất mát, đau thương song không bi lụy; gian khổ, hi sinh song vẫn rất hào hùng, tráng lệ. Âm hưởng bi tráng có cội nguồn từ chiến trường Tây Tiến ác liệt, từ tinh thần quả cảm và tâm hồn lạc quan của những chàng trai Hà thành, từ tấm lòng đồng cảm và trân trọng đồng chí đồng đội của nhà thơ; - Giọng thơ cổ kính cùng việc nhấn mạnh nét trượng phu của người lính cũng góp phần làm tăng tính chất bi tráng của tác phẩm. - Âm hưởng bi tráng cùng với cảm hứng lãng mạn làm nên vẻ đẹp độc đáo của hình tượng người lính Tây Tiến; có ý nghĩa giáo dục nhận thức và bồi đắp tình cảm, trách nhiệm cho thế hệ hôm nay và mai sau. 4. Nhận xét cảm hứng lãng mạn của hồn thơ Quang Dũng. - Bút pháp lãng mạn của QD trong đoạn thơ của Tây Tiến được biểu hiện cụ thể trong lối viết không hướng về cái bi, có gợi thương, gơi sự đồng cảm nhưng không xoáy sâu vào cảm xúc bi thương. Xuyên suốt khổ thơ, nhà thơ luôn hướng tới những hình ảnh kỳ vĩ “đèo cao”, “vực sâu” “ dốc thăm thẳm” hay “súng ngửi trời”, cùng những hình ảnh thơ 10
  11. mộng “nhà ai”, “mưa xa khơi”, hình ảnh chân thật gần gũi đầy tình người “cơm lên khói”, “nếp xôi”, ngoài ra còn kết hợp với thể thơ thất ngôn trường thiên giàu nhạc điệu hào hùng, mạnh mẽ. - QD sử dụng nhuần nhuyễn các biện pháp tu từ: từ láy, nhân hóa, điệp từ, điệp cấu trúc ngữ pháp và nhiều hình ảnh giàu sức gợi. Tất cả tạo nên một tổng thể hài hòa, chặtchẽ, tạo nên một Tây Tiến đầy cảm xúc. - QD đã vận dụng thành công bút pháp lãng mạn lên bức tranh thiên nhiên hùng vĩ đầy những hiểm nguy và những mất mát hy sinh mà đời lính phải trải qua.QD mở rộng tâm hồn đón nhận cuộc sống chiến đấu của Tây Tiến từ mọi phía, không theo bất kì khuôn mẫu nào.Tác phẩm là đóng góp lớn của ông trong sự nghiệp thơ ca thời kháng chiến chống Pháp . 5. Cái nhìn thiên nhiên của nhà thơ Quang Dũng - Cái nhìn thiên nhiên là cách cảm nhận và miêu tả về thiên nhiên trong bài thơ. - Biểu hiện: + Thiên nhiên được cảm nhận rất hùng vĩ, dữ dội, hoang sơ, là một thách thức với người lính trên con đường hành quân ra trận. + Cái nhìn thiên nhiên thơ mộng, trữ tình với một hồn thơ đầy tinh tế, nhạy cảm; tạo cho người đọc một cảm giác bâng khuâng, nao lòng trước cảnh đẹp của thiên nhiên núi rừng Tây Bắc. Bằng chính cái tôi lãng mạn hào hoa của mình, nhà thơ muốn thể hiện sự quyến luyến, nhớ nhung khi phải chia tay thiên nhiên và con người Tây Bắc. + Thiên nhiên là phông nền tô đậm vẻ đẹp của người lính Tây Tiến. 6. Bình luận ngắn gọn vẻ đẹp đậm chất sử thi của hình tượng người lính Tây Tiến trong thơ Quang Dũng. - Giải thích: Chất sử thi trong văn học tập trung phản ánh những vấn đề có ý nghĩa sống còn của đất nước: Tổ quốc còn hay mất, tự do hay nô lệ. Nhân vật chính là những con ngườiđạidiện cho phẩmchấtvàý chí của dân tộc; gắn bó số phận cá nhân với số phận đất nước; luôn đặt lẽ sống của dân tộc lên hàng đầu. Giọng điệu sử thi là giọng ngợi ca, trang trọng và đẹp tráng lệ, hào hùng. 11
  12. - Bình luận vẻ đẹp đậm chất sử thi của hình tượng người lính Tây Tiến: Hình tượng người lính Tây Tiến là một tập thể anh hùng. Tuy họ là những người lính trí thức tiểu tư sản nhưng đã đại diện cho vẻ đẹp của anh bộ đội Cụ Hồ trong cuộc kháng chiến chống Pháp với tất cả vẻ đẹp hào hùng, hào hoa, bi tráng lãng mạn, có lí tưởng, dám chiến đấu đặc biệt, kể cả khi nói về cái chết cũng hết sức lẫm liệt. - Ý nghĩa: Chất sử thi từ vẻ đẹp hình tượng người lính Tây Tiến tạo nên bức tượng đài nghệ thuật bất tử trong văn học hiện đại Việt Nam 1945-1975, gắn liền với cảm hứng lãng mạn, thể hiện phong cách hồn nhiên, tinh tế, phóng khoáng, đậm chất lãng mạn của hồn thơ Quang Dũng. 7. Bút pháp lãng mạn, sắc màu bi tráng - Bút pháp lãng mạn ưa khám phá những vẻ đẹp dữ dội, phi thường, hay sử dụng thủ pháp đối lập mạnh mẽ. Bút pháp này chủ yếu được bộc lộ qua bốn câu thơ đầu. Tác giả nhiều lần viết về cái bi, sự mất mát, song buồn mà không uỷ mị, cúi đầu, mất mát mà vẫn cứng cỏi, gân guốc. - Màu sắc bi tráng chủ yếu được thể hiện trong 4 câu thơ còn lại. Cái bi hiện ra qua hình ảnh những nấm mồ hoang lạnh dọc đường hành quân, người chiến sĩ hi sinh chỉ có manh chiếu tạm. Nhưng cái tráng của lí tưởng khát vọng cống hiến đời xanh cho Tổ quốc, của áo bào thay chiếu, của điệu kèn thiên nhiên gầm lên dữ dội đã nâng đỡ hình ảnh thơ và truyền cảm xúc bi tráng vào lòng người III. VIỆT BẮC (TỐ HỮU) 1. Nhận xét về tính dân tộc thể hiện trong bài thơ - Tính dân tộc: Tính dân tộc có thể được hiểu là những đặc điểm nổi bật của cộng đồng người có chung lãnh thổ, ngôn ngữ, phương thức và chế độ chính trị trải qua một thời kì lịch sử lâu dài. Tính cách dân tộc là "những nét phẩm chất lặp đi lặp lại tạo thành bộ mặt tinh thần của dân tộc" - Biểu hiện: Phản ánh sự kiện của dân tộc, tâm tư, tình cảm mang hồn cốt dân tộc: lối sống nghĩa tình, thủy chung, giàu tình cảm của con người Việt Nam. Sử dụng điêu luyện thể thơ lục bát (thể thơ truyền thống của dân tộc). Giọng thơ ngọt ngào, sâu lắng, giàu tính nhạc, dễ đi vào lòng người. Lối đối đáp giao duyên, xưng hô ta – mình mộc mạc, dân dã, thấm đượm nghĩa tình quân dân. Người dân Việt Bắc và người cán bộ giống như 12
  13. một đôi trai gái. Ngôn từ thuần Việt, giản dị, dễ thuộc, dễ nhớ. Hình ảnh thơ gần gũi đời thường, nhiều sức gợi. - Ý nghĩa: Thể hiện tình cảm chân thành tha thiết, thể hiện tư tưởng chủ đề tác phẩm. 2. Nhận xét về chất trữ tình – chính trị trong thơ Tố Hữu - Chất trữ tình – chính trị: nói về vấn đề, sự kiến chính trị, lịch sử bằng thơ, bằng cảm xúc chân thành dạt dào, tình cảm lớn lao. - “Tố Hữu đã đưa thơ chính trị lên trình độ là thơ rất đỗi trữ tình” (Xuân Diệu) Thể hiện tình cảm lớn lao, mang tính chính trị, nó khác với những tình cảm riêng tư, cá nhân. Cảm hứng chủ yếu của đoạn thơ là cảm hứng ân tình cách mạng, niềm biết ơn sâu sắc với căn cứ địa Việt Bắc. Tiếng nói trữ tình tha thiết của người đi - kẻ ở đã gieo vào lòng người đọc sắc thái của một cuộc chia tay lớn mang ý nghĩa lịch sử trọng đại mà ngỡ như cuộc biệt li giữa đôi lứa yêu nhau. Cả người đi và kẻ ở đều bâng khuâng, trống trải và nhớ nhung sâu nặng. Lời hỏi cũng đồng thời là lời đáp, lời khẳng định, lời nhắn gửi ân tình giữa cán bộ chiến sĩ về xuôi với người dân Việt Bắc. Chất trữ tình mang tâm hồn Huế trầm tư, sâu lắng, thiết tha trìu mến của nhà thơ. - Ý nghĩa: Tô đậm thêm tình quân dân thắm thiết, nghĩa tình cách mạng đậm sâu. 3. Nhận xét về chất nhạc, chất họa trong thơ Tố Hữu (bức tranh tứ bình) - Nêu khái niệm (đã có) - Đoạn thơ giàu chất họa: Đó là một bức tranh tứ bình tuyệt đẹp về thiên nhiên và con người Việt Bắc trong bốn mùa, mỗi mùa đều được khắc họa bởi một màu sác đặc trưng, nổi bật và đặc trưng cho Việt Bắc. Hình ảnh con người Việt Bắc tuy chỉ như những nét phác họa nhưng cũng gợi ra đầy đủ và phong phú vẻ đẹp trong cuộc sống và tâm hồn của họ. Đặc biệt, bức tranh tứ bình đẹp đẽ và sinh động hơn khi có sự đan xen hài hòa giữa vẻ đẹp thiên nhiên và con người. - Không chỉ có màu sắc, bức tranh tứ bình về bốn mùa Việt Bắc còn được dệt nên bằng âm điệu: thể thơ lục bát nhịp nhàng, tha thiết, ngọt ngào, sâu lắng như ru vỗ con người vào nhịp nhớ đều đặn của những kỉ niệm. Sử dụng cặp đại từ “mình – ta” kết hợp với nghệ thuật đối tạo ra sự cân xứng về cấu trúc và sự nhịp nhàng của ngôn từ. Biện pháp điệp: điệp từ “nhớ” được nhắc lại 5 lần tạo nên nhịp ru cho bài thơ, nhấn mạnh, khắc sâu nỗi nhớ trong lòng người đi. Đoạn thơ có giọng điệu tâm tình, đằm thắm, là tiếng nói của tình thương mến ngọt ngào Thơ Tố Hữu phong phú nhạc điệu, một thứ nhạc giàu có tự bên trong của tâm hồn hòa với nhạc điệu lôi cuốn của đời sống. 13
  14. 4. Nhận xét về chất sử thi trong thơ Tố Hữu (đoạn ra trận) - Tính sử thi: tính cộng đồng, hình ảnh thơ kì vĩ, lớn lao, bút pháp phóng đại. - Tính sử thi được Tố Hữu đề cập đến những vấn đề có ý nghĩa lịch sử và tính chất toàn dân, tập trung khắc họa những bối cảnh rộng lớn với cảm hứng lịch sử, dân tộc + Con người trong thơ Tố Hữu là những con người tiêu biểu cho dân tộc (quân đi, dân quân những con người ra trận) mang tầm vóc lịch sử, thời đại. + Hình ảnh thơ kì vĩ, lớn lao: Rầm tập đất rung, điệp điệp trùng trùng, bước chân nát đá (bút pháp phóng đại) + Giọng điệu hào hùng, dồn dập tạo nên phong cách nghệ thuật độc đáo cho thơ Tố Hữu: tính chất trữ tình. -Ý nghĩa: Vẻ đẹp, khí thế ra trận hào hùng của dân tộc, thể hiện sức mạnh đoàn kết, sức mạnh tinh thần tập thể IV. SÓNG (XUÂN QUỲNH) 1. Nhận xét về cách bày tỏ khát vọng tình yêu của nhà thơ Xuân Quỳnh. - Đoạn thơ nói riêng và bài thơ “Sóng” nói chung bộc lộ cái tôi cá nhân của thi sĩ Xuân Quỳnh trong tình yêu, đó là cái tôi giàu cảm xúc và khát vọng mãnh liệt . - Không che dấu, không ngại ngùng, Xuân Quỳnh rất mạnh mẽ, rất hiện đại trong cách bày tỏ khát vọng tình yêu: được vượt lên sự hữu hạn của đời người, được hóa thân vào con sóng bất tử, được hi sinh, dâng hiến, được tan chảy vào bờ cõi không giới hạn. - Qua cách bày tỏ tình yêu ấy, ta thấy hiện lên một Xuân Quỳnh với một trái tim yêu cháy bỏng, một tâm hồn yêu nồng nàn, rất mạnh mẽ mà cũng rất chân thật, rất đời, rất “người”. 2. Nhận xét về tình cảm của người con gái khi yêu - Người con gái khi yêu luôn xuất hiện cùng lúc nhiều trạng thái cảm xúc, đôi khi cóthể mâu thuẫn nhau. - Khi yêu, họ sẽ luôn muốn hiểu được người yêu, hiểu mình và hiểu tình yêu của mình dù biết rằng tất cả những băn khoăn đều không dễ dàng giải đáp. -Tình yêu của họ luôn nồng nàn, say đắm. 14
  15. 3. Nhận xét về quan niệm tình yêu của Xuân Quỳnh - XQ thể hiện 1 quan niệm tình yêu mang tính chất truyền thống. Biểu hiện cụ thể qua nỗi nhớ của người phụ nữ đang yêu được ẩn dụ kín đáo qua hình tượng sóng. Tình yêu còn gắn liền với sự chung thủy, với khát vọng về một mái ấm gia đình hạnh phúc. - Bên cạnh đó, bài thơ thể hiện quan niệm mới mẻ hiện đại của Xuân Quỳnh về tình yêu. Đó là một tình yêu với nhiều cung bậc phong phú, đa dạng: dữ dội, ồn ào, dịu êm, lặng lẽ. Người phụ nữ khi yêu chủ động bày tỏ những khát khao yêu đương mãnh liệt và rung động rạo rực trong lòng mình “Sông không hiểu nổi mình/ Sóng tìm ra tận bể”, khao khát kiếm tìm một tình yêu lớn của cuộc đời, dám sống hết mình cho tình yêu, hòa nhập tình yêu cá nhân vào tình yêu rộng lớn của cuộc đời, với khát khao được “tan ra” để hòa vào “biển lớn tình yêu”. - Hai quan niệm này không đối lập mà bổ sung cho nhau làm nên vẻ đẹp tâm hồn của người phụ nữ trong tình yêu hiện lên qua hình tượng sóng. - Quan niệm ấy thể hiện qua thể thơ năm chữ giàu nhịp điệu mang âm điệu của sóng, hình ảnh ẩn dụ của “sóng” mang tính chất biểu tượng. Quan niệm ấy đã góp phần tạo nên thành công cho thi phẩm, tạo dấu ấn trong phong cách thơ XQ, qua đó người đọc thấy được khát vọng tình yêu cao đẹp là khát vọng sống vô cùng nhân văn. 4. Nhận xét về sự vận động của hình tượng sóng và em * Sự vận động của hình tượng sóng. - Ở hai khổ đầu, sóng chỉ đơn thuần là một chi tiết nghệ thuật được nhân vật trữ tình chiêm ngưỡng với những suy ngẫm sâu xa để từ đó phát hiện giữa sóng và em có những tương đồng đến kì lạ: đầy phức tạp, bí ân nhưng đã khái quát hóa thành quy luật trường tồn. - Đến hai khổ cuối, sóng không còn đóng vai một đối tượng khơi gợi cảm xúc nữa mà thật sự đã trở thành một hình tượng song hành, đồng hiện cùng với hình tượng “em”. Khát vọng của em đã tan ra thành “trăm con sóng”; giai điệu của sóng cũng là lời bài hát ca ngợi một tình yêu trường tồn để âm giai của cả em và sóng cùng hòa nhịp đến vĩnh hằng “ngàn năm còn vỗ”. 15