Ôn tập TN THPT môn Ngữ văn - Chuyên đề: Cách làm phần phản đề trong bài nghị luận xã hội - Ngô Thị Hồng

docx 11 trang Nguyệt Quế 07/01/2026 100
Bạn đang xem tài liệu "Ôn tập TN THPT môn Ngữ văn - Chuyên đề: Cách làm phần phản đề trong bài nghị luận xã hội - Ngô Thị Hồng", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên.

File đính kèm:

  • docxon_tap_tn_thpt_mon_ngu_van_chuyen_de_cach_lam_phan_phan_de_t.docx

Nội dung tài liệu: Ôn tập TN THPT môn Ngữ văn - Chuyên đề: Cách làm phần phản đề trong bài nghị luận xã hội - Ngô Thị Hồng

  1. SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO CHUYÊN ĐỀ ÔN TẬP BẮC NINH KỲ THI TỐT NGHIỆP THPT NĂM 2023 Môn: Ngữ Văn TÊN CHUYÊN ĐỀ: CÁCH LÀM PHẦN PHẢN ĐỀ TRONG BÀI NGHỊ LUẬN XÃ HỘI Người biên soạn: Ngô Thị Hồng Đơn vị công tác: THPT Nguyễn Trãi I.LÝ THUYẾT Trong dạy học Làm văn ở trường trung học phổ thông, văn nghị luận xã hội có vai trò khá quan trọng trong việc gắn giáo dục ở nhà trường với xã hội, đồng thời đánh thức ở người học thái độ quan tâm tới các vấn đề của hiện thực cuộc sống. Văn nghị luận xã hội là kiểu bài không thể thiếu trong các đề thi chọn học sinh giỏi, đề thi THPT quốc gia nhiều năm gần đây. Trong cấu trúc đề thi Học sinh giỏi quốc gia, thi học sinh giỏi khu vực phần nghị luận xã hội chiếm 8/20 điểm, trong cấu trúc đề thi THPT quốc gia phần nghị luận xã hội chiếm 3/10 điểm. Thực tế cho thấy, bài làm văn nghị luận xã hội đòi hỏi khá cao khả năng xử lí vấn đề của người viết, vì trong phạm vi yêu cầu hạn hẹp về hình thức văn bản (độ dài bài văn), trong phạm vi hạn hẹp về thời gian làm bài, người viết phải biết khai triến vấn đề một cách logic, mạch lạc để lí giải và thuyết phục người nghe (người đọc) về vấn đề xã hội được bàn luận. Bên cạnh đó, bài làm văn nghị luận xã hội không chỉ yêu cầu người viết biết cách bàn luận, mà còn phải có năng lực bàn luận vấn đề, đồng thời bài văn nghị luận xã hội cũng yêu cầu người viết phải có năng lực đề xuất các biện pháp, giải pháp để tác động cải tạo vấn đề xã hội. Để đáp ứng những yêu cầu trên của bài văn nghị luận xã hội đòi hỏi học sinh phải chủ động, sáng tạo trong lập luận theo quan điểm của mình. - Với mục tiêu mở ra một cái nhìn có ý nghĩa tổng quát về vấn đề tư duy phản biện và tư duy phản biện trong bài văn nghị luận xã hội đồng thời rút ra những kinh nghiệm rèn năng lực tư duy phản biện cho học sinh để làm tốt bài nghị luận xã hội trong các kì thi. 1. Cơ sở lý luận 1.1. Phản đề là gì? -Phản đề được sử dụng trong văn viết hoặc lời nói như một mệnh đề tương phản hoặc đảo ngược một số mệnh đề đã đề cập trước đó, hoặc khi hai mặt đối lập được đưa vào cùng nhau để tạo ra hiệu ứng tương phản. 1.2. Văn nghị luận xã hội a. Khái niệm -Văn nghị luận: Thể văn nghị luận viết về những vấn đề nóng bỏng thuộc nhiều lĩnh vực đời sống khác nhau: chính trị, xã hội, triết học, văn hoá. Mục đích của văn
  2. chính luận là bàn bạc, thảo luận, phê bình hay truyền bá tức thời một tư tưởng, một quan điểm nào đó”. -Theo các cách hiểu trên, nghị luận xã hội là thể văn hướng tới phân tích, bàn bạc, đánh giá các vấn đề liên quan đến con người, đến xã hội, đến các mối quan hệ của con người trong đời sống xã hội. Mục đích hướng đến bàn luận của văn nghị luận xã hội là tạo ra những tác động tích cực đến con người và những mối quan hệ giữa con người với con người trong xã hội. b. Đặc trưng văn nghị luận xã hội Đối tượng phản ánh và phạm vi phản ánh của văn nghị luận xã hội trong trường phổ thông hết sức phong phú, đa dạng, bao gồm những vấn đề về tư tưởng, đạo lí, hiện tượng xã hội, vấn đề xã hội đặt ra trong tác phẩm văn học. Nếu đối tượng nghị luận của văn nghị luận văn học chủ yếu là các vấn đề được đề cập trong tác phẩm văn học, thì đối tượng nghị luận của văn nghị luận xã hội lại hướng người học đến phạm vi, đến các vấn đề của hiện thực đời sống xã hội. Nếu học văn nghị luận văn học trong nhà trường, người học được tiếp cận với cuộc sống qua lăng kính sáng tạo của nhà văn, thì học văn nghị luận xã hội người học được trực tiếp trải nghiệm cuộc đời qua lăng kính của chính mình. Đặc trưng nổi bật trong văn nghị luận xã hội là tính “thời sự”. Hầu như tất cả các vấn đề nổi cộm, nóng bỏng, báo động đang diễn ra trong xã hội, được dư luận quan tâm đều có thể trở thành đối tượng nhận diện, phản ánh, bàn luận kịp thời của văn nghị luận xã hội. Do đó, trước một vấn đề xã hội, người viết không chỉ bàn luận một cách độc lập mà còn biết xem xét, đánh giá từ các góc nhìn, các quan điểm khác nhau của dư luận xã hội. Để làm tốt các bài văn nghị luận xã hội, người viết phải bám sát, phải trải mình với hiện thực “bụi bặm”, “bề bộn” đang diễn ra hàng ngày trong xã hội. Dạy văn nghị luận xã hội phải hình thành cho người học thói quen gắn đối tượng nghị luận với thực tế cuộc sống. Xa rời hiện thực xã hội, bài làm văn sẽ thiếu sức sống, thiếu tính thời sự (vốn là đặc trưng và yêu cầu của văn nghị luận xã hội). Bên cạnh đó, văn nghị luận xã hội cũng đòi hỏi người viết khi đối diện trước vấn đề xã hội phải biết chủ động, mạnh dạn đề xuất chính kiến của mình để lí giải và thuyết phục người đọc bằng những lí lẽ xác đáng. Xuất phát từ đối tượng nghị luận, văn nghị luận xã hội có những đặc trưng riêng, đòi hỏi riêng, yêu cầu riêng trong cách thức nghị luận và phương thức biểu đạt. Từ những đặc trưng trên, ta thấy rằng để làm tốt bài văn nghị luận xã hội học sinh cần rèn luyện năng lực tư duy phản biện. -Những năm gần đây trong các đề thi tuyển Học sinh giỏi và thi THPT Quốc gia luôn có câu nghị luận xã hội thường hướng tới những vấn đề mang tính thời sự đang thu hút sự quan tâm của cả xã hội. Đó có thể là nghị luận về một tư tưởng đạo lý hoặc
  3. nghị luận về một hiện tượng đời sống. Phần nghị luận xã hội là nơi để học sinh bộc lộ thái độ, quan điểm của các em trước những vấn đề của cuộc sống. c. Tư duy phản biện trong bài văn nghị luận xã hội - Phản đề trong văn nghị luận xã hội là cách đưa ra một ý kiến ngược lại hoàn toàn với vấn đề đang được bàn bạc rồi từ đó khẳng định tính đúng đắn của vấn đề đang bàn bạc. 2. Các bước và phương pháp trong quá trình phản biện 2.1. Các bước phản biện Để tiến hành phản biện một vấn đề nào đó theo chúng tôi cần tiến hành theo ba bước sau: – Xem xét, quan sát, suy ngẫm để tìm kiếm, phát hiện các khía cạnh phản biện. – Tiến hành phản biện: dùng lý lẽ, dẫn chứng, lập luận để phản biện vấn đề. – Rút ra ý nghĩa, bài học về nhận thức và hành động từ các vấn đề phản biện. 2.2 Định hướng, phương pháp và kỹ năng sử dụng các thao tác lập luận trong quá trình phản biện a. Định hướng - Đầu tiên là xem xét, suy ngẫm, tìm kiếm, phát hiện các khía cạnh phản biện. Cho nên khi tiến hành phản biện cần định hướng học sinh mấy điều sau: – Mọi sự vật, hiện tượng đều có hai mặt: trái – phải, tốt – xấu, đúng – sai, tích cực – tiêu cực nên cần chú ý mặt trái của vấn đề (ngay cả những điều tưởng chừng là đúng là tốt đẹp). Ví dụ: Đề: Lòng dũng cảm, tinh thần xả thân là rất đáng khâm phục, ngợi ca. Nhưng xả thân bằng mọi giá, bất chấp hoàn cảnh, tình huống thì có đáng ca ngợi không? Anh/ chị hãy trình bày quan điểm của mình. Đề: Là học sinh thì phải biết vâng lời cha mẹ và thầy cô. Anh/ chị suy nghĩ gì về vấn đề trên? – Mọi sự vật, hiện tượng đều không hoàn thiện: có khiếm khuyết, phiến diện, có cái đúng cái sai. Nên khi phản biện cần đề xuất bổ sung, hoàn thiện vấn đề. Ví dụ: Đề: Quan điểm của anh/ chị về vấn đề: “Ở hiền, gặp lành”. Đây là điều mà nhân dân đã đúc kết trong cuộc sống xã hội: ở hiền sẽ gặp lành. Câu tục ngữ khuyên con người hãy sống tốt, sống cho đúng đạo lý làm người nhưng cũng thể hiện một khát vọng (mà trong thực tế chưa đạt được)- khát vọng công lý.
  4. Cho nên chừng nào trong xã hội chưa có sự công bằng, công lý chưa thực sự được thực thi và bao nhiêu những yếu tố ngẫu nhiên, bất ngờ còn tồn tại thì “ở hiền” chưa chắc đã “gặp lành” và “ác giả” chưa chắc đã bị “ác báo”. Đề: Anh/chị suy nghĩ như thế nào về chương trình giải trí trên VTV “Gương mặt thân quen”. Đây là chương trình giải trí đã lôi cuốn được số đông khán giả và trong một thời gian dài. Những người tham gia chương trình này đòi hỏi phải hóa thân vào một nghệ sĩ khác (thường là các nghệ sĩ nổi tiếng). Đây là một thử thách. Thế nhưng cần lưu ý rằng “Gương mặt thân quen” thực chất chỉ là sự “bắt chước” và nghệ thuật đích thực không bao giờ chấp nhận sự bắt chước. Khi chúng ta bắt chước người khác thì cũng tự đánh mất chính mình. – Trên là những mặt trái, mặt khiếm khuyết trong bản chất của hiện tượng sự vật. Nhưng trong văn nghị luận còn có cái sai về hình thức lập luận. Chúng ta cũng cần tập cho học sinh phản biện ở phương diện này. b. Phương pháp và kỹ năng phản biện * Xem xét, quan sát, suy ngẫm, tìm kiếm và phát hiện các khía cạnh phản biện Cần nhắc nhở học sinh rằng luôn luôn phải đặt câu hỏi: Tại sao lại như thế? Vấn đề ấy có đúng không? Trong tương lai liệu điều này sẽ thế nào? Ví dụ. Đề: Khoa học kỹ thuật phát triển và khi được trang bị nhiều phương tiện hiện đại thì con người sẽ trở nên mạnh mẽ hơn. Anh /chị có đồng tình với ý kiến trên không? Đây là vấn đề tưởng như là chân lý. Sự phát triển của khoa học kỹ thuật là vì con người, vì tiến bộ của nhân loại. Con người đã trở nên mạnh mẽ nhờ các phương tiện hiện đại: nhìn vào vũ trụ xa xăm bằng kính viễn vọng, đi vào thế giới vi mô bằng kính hiển vi, có thể “đi mây, về gió” như các nhân vật huyền thoại, tạo ra các vũ khí hủy diệt hàng loạt Nhưng con người không trở nên hoàn toàn mạnh mẽ nhờ những điều ấy. Mặt trái của sự phát triển, công nghệ đó là môi trường bị hủy hoại, con người đang phải đối mặt với những điều hết sức lớn lao. Nhà bác học vĩ đại Stephen Hawking đã cảnh báo chúng ta về trí tuệ nhân tạo. Mạng xã hội giúp con người có cơ hội kết nối giao lưu, nhưng chính mạng xã hội làm cho con người xa nhau hơn. Trong xã hội càng hiện đại con người dường như càng cô đơn và yếu đuối hơn. * Tiến hành phản biện: dùng lý lẽ, dẫn chứng, lập luận để phản biện
  5. Văn nghị luận là dùng lý lẽ, dẫn chứng, lập luận để thuyết phục người đọc về một vấn đề nào đó. Khi phản biện- bác bỏ thì lý lẽ phải càng sắc sảo, dẫn chứng phải hết sức thuyết phục và lập luận đòi hỏi phải chặt chẽ. Trước hết, dẫn chứng trong bài làm văn Nghị luận xã hội có tính “mở” ở cả phạm vi khai thác và phạm vi sử dụng. Nếu dẫn chứng sử dụng trong bài làm văn nghị luận văn học thường gắn liền và bắt nguồn từ văn bản văn học trong nhà trường thì dẫn chứng trong văn Nghị luận xã hội có thể khai thác để sử dụng từ nhiều nguồn khác nhau như các sự kiện, sự việc, nhân vật, số liệu trong đời sống xã hội, dẫn chứng có thể lấy trong lịch sử, gắn với nhân vật, sự kiện lịch sử. Cần lưu ý, trong bài văn Nghị luận xã hội, người viết cần tránh khai thác dẫn chứng trong tác phẩm văn học vì các nhân vật, sự kiện văn học thường được hư cấu, sáng tạo qua lăng kính của nhà văn. Dẫn chứng trong văn Nghị luận xã hội còn “mở” trong phạm vi sử dụng, đôi khi một sự kiện, một nhân vật. có thể được dùng trong nhiều bài văn Nghị luận xã hội khác nhau nếu người viết biết khai thác dẫn chứng để sử dụng cho nhiều góc độ lập luận khác nhau. -Khi sử dụng dẫn chứng cho bài làm văn Nghị luận xã hội, người viết cần lưu ý: dẫn chứng phải phù hợp với vấn đề nghị luận đang bàn và gắn với vấn đề đang bàn, dẫn chứng trong bài làm văn Nghị luận xã hội cần tránh nói chung chung, nó phải cụ thể, rõ ràng, chính xác như về con người, số liệu, sự kiện, thông tin , đồng thời dẫn chứng phải tiêu biểu và có ý nghĩa xã hội. -Khi sử dụng dẫn chứng cho bài làm văn Nghị luận xã hội người viết cần tránh việc liệt kê dẫn chứng mà thiếu sự phân tích thấu đáo. Dẫn chứng khi đưa vào bài văn Nghị luận xã hội phải được phân tích, khái quát, đánh giá cụ thể để tăng độ tin cậy và sức thuyết phục cho luận điểm bài văn. * Rút ra ý nghĩa, bài học về nhận thức và hành động từ những vấn đề đã phản biện - Đây là bước cuối cùng và cũng là cái đích của quá trình phản biện. Phản biện không chỉ để phản biện, phản biện chính là phải có nhận thức mới, tư duy mới và cách hành động mới. -Ví dụ yêu cầu của đề bài trên: Anh/chị hãy đưa ra các lý do để chống lại các bản án tử hình. Học sinh phải rút ra những ý nghĩa, bài học về nhận thức và hành động: trong mọi hoàn cảnh phải biết trân trọng con người, con người là điều quý giá nhất. Tất cả ở trong con người và tất cả phải vì con người.
  6. 3. Rèn luyện tư duy phản biện qua các thao tác lập luận - Trong bài văn nghị luận, các thao tác đóng vai trò quan trọng, nó thể hiện rõ nét ý thức của người viết trong việc thuyết phục người đọc. Nhưng trong thực tế học sinh tỏ ra yếu kém trong việc sử dụng thao tác lập luận, thậm chí là không có ý thức về nó. - Rèn luyện thao tác lập luận cần phải được tiến hành trong mọi tình huống sư phạm, không chỉ trong các tiết luyện tập, các bài viết mà cả trong tiết đọc văn, hay khi học sinh phát biểu trên lớp, trả bài cũ Giáo viên cần giúp học sinh nắm vững quy trình của các thao tác lập luận và hình thành các kỹ năng. - Trong khuôn khổ đề tài này chúng tôi chỉ đề cập việc rèn luyện tư duy phản biện cho học sinh ở hai thao tác lập luận: bác bỏ và bình luận, bởi vì “bác bỏ” và “bình luận” là một phần của phản biện. a. Thao tác lập luận bác bỏ: là dùng các lý lẽ, dẫn chứng để phủ định tính chân thực của các luận điểm, luận cứ và cách lập luận sai. Từ đấy để khẳng định những luận điểm và cách lập luận đúng. Trong thao tác lập luận bác bỏ, biểu hiện của tư duy khoa học trước tiên là nhận ra vấn đề có sai không? Và sai ở cấp độ nào: luận điểm, luận cứ hay cách lập luận? Trong cuộc sống có rất nhiều tình huống và vô cùng đa dạng những cái sai. Có những luận điểm có thể rất logic kể cả trong luận cứ và cách lập luận nhưng xét kỹ thì mâu thuẫn và tỏ ra không ổn. Ví dụ có lập luận sau: – Loài bò sát thì có máu lạnh, những kẻ có máu lạnh cũng giống như loài bò sát vậy. Chân lý bao giờ cũng là cụ thể, luôn thay đổi trong những hoàn cảnh, tình huống khác nhau. Tư duy phản biện của học sinh sẽ bộc lộ trong việc khám phá chân lý trong những hoàn cảnh, tình huống ấy. Vì vậy cũng cần để cho học sinh thử thách trí tuệ của mình trong việc tìm đến chân lý cụ thể. Ví dụ ở bài tập sau: Nhiều người cho rằng: thật thà là dại dột. Trong lúc đó tục ngữ ta lại có câu: “thật thà là cha quỷ quái”. Ý kiến anh/ chị thế nào? Cần có nhiều bài tập cho học sinh luyện tập bác bỏ. Các đề bài nghị luận xã hội là mảnh đất màu mỡ. Trong các vấn đề xã hội cần lưu ý học sinh lật đi, lật lại vấn đề, xem xét soi chiếu từ nhiều góc độ, khía cạch khác nhau. Điều quan trọng là để cho các em bộc lộ quan điểm cá nhân của mình về các vấn đề đời sống.
  7. b. Thao tác lập luận bình luận: Bác bỏ là thao tác lập luận rất gần với bình luận. Bình luận là bàn bạc, đánh giá về sự đúng – sai, thật – giả, hay – dở, lợi – hại của các hiện tượng, sự vật, chủ trương, tư tưởng, hành vi của con người, xã hội. Trước mọi vấn đề, hiện tượng trong đời sống xã hội chúng ta đều có nhu cầu bộc lộ quan điểm, chính kiến, bình luận về nó. -Để bàn bạc, đánh giá về một hiện tượng sự vật thì người bình luận phải hiểu thấu đáo về đối tượng bình luận. Không hiểu về nó thì bàn bạc, đánh giá hời hợt, phiến diện, có khi sai lệch. Vấn đề bình luận cần được nhìn nhận từ nhiều góc độ. 4. Rèn kĩ năng phản biện cho HS trong các giờ học Ngữ văn GV cần hướng dẫn để HS thấy rằng thông thường một quá trình tư duy phản biện sẽ trải qua những bước sau đây: – Đọc và theo dõi cẩn thận những bước đi của luận cứ nhằm xác định các tiên đề và các kết luận mà tác giả luận cứ nêu ra (đây chính là các kiến thức mới mà người thầy muốn HS tiếp nhận). Trong trường hợp này, HS nên đặt ra những câu hỏi nghi vấn như: Tại sao lại như thế? Bản chất vấn đề là gì? Nếu thế này, thế kia thì sao? v.v – Nếu trong luận cứ, ta thấy không có suy luận mà chỉ là những khẳng định nghĩa là luận cứ chỉ chứa đựng những thông tin, và những thông tin đó có thể chính xác hay sai lệch. Khi đó, HS có quyền không quan tâm đến những gì mà tác giả của luận cứ muốn thuyết phục người nghe. HS có thể hoài nghi: Kết luận rút ra từ những luận cứ đó có thể không có sức thuyết phục. – Trong trường hợp kết luận không thuyết phục, có nghĩa là nó mang tính ngụy biện, chúng ta cần xem xét lại. Việc từ chối hay chấp nhận những kiến thức mới là một thành phần của hệ thống kiến thức mà HS cần tích lũy trong suốt quá trình học tập của mình. 5. Một số biện pháp hỗ trợ nhằm phát huy tư duy phản biện của HS a. Khích lệ, động viên, mở đường Đây là những biện pháp mang tính hỗ trợ kiểu “giọt nước tràn ly”. Nhiều khi HS có tư duy phản biện, có kĩ năng phản biện tốt cùng với kiến thức chuyên sâu nhưng do hoàn cảnh, tính cách nhút nhát mà các em không dám hoặc e ngại phản biện. Lúc này, sự động viên của thầy cô giáo sẽ giúp các em mạnh dạn hơn, tự tin hơn bước vào cuộc.
  8. Có nhiều kiểu động viên: động viên thường xuyên, động viên tức thì Động viên thường xuyên là việc làm thường ngày mỗi khi lên lớp. Động viên tức thì gắn với hoàn cảnh, tình huống cụ thể cần giải quyết. Những câu nói động viên có thể là động lực thúc đẩy tinh thần học sinh, chẳng hạn: Em có đồng ý như vậy không? Em có ý kiến khác không? Hãy mạnh dạn trình bày ý kiến của em? Thầy (cô) sẽ trân trọng ý kiến của em! Những ý kiến phản biện của các em sẽ được cân nhắc, nếu đúng, hay sẽ được tuyên dương và bổ sung vào bài học; nếu sai thì hướng dẫn thêm cho các em (Em hãy cố gắng lần sau! ), chứ không vì lời nói khinh suất mà trách mắng HS. Việc động viên, khích lệ HS phải đảm bảo tính chân thực, tránh sáo rỗng, giả tạo nhưng cũng tránh gay gắt, làm mất cảm hứng học tập của các em. Thay vì nói: “Em sai rồi”, “Em nói thế không ai chấp nhận!”, hãy nói: “Ý kiến của em chưa thuyết phục lắm!”, “Em hãy tiếp tục suy nghĩ và cố gắng lần sau!”. Khích lệ là cách làm cho HS thấy yên tâm như có đồng minh bên cạnh, để từ đó nói thật những suy nghĩ của mình. Biện pháp này hướng tới tất cả các đối tượng, đặc biệt là với những HS nhút nhát, ít va chạm, ít tham gia phát biểu, tranh luận, đối thoại; những HS hay mặc cảm, tự ti. GV vận dụng biện pháp này cần phải khéo léo, cũng có thể pha một chút dí dỏm sẽ đạt hiệu quả cao hơn. b. Tạo không khí đối thoại, tự do dân chủ Một giờ học thật sự hiện đại phải có những đối thoại sôi nổi trong một không khí thực sự dân chủ. Khoảng cách thầy – trò được rút ngắn, quan hệ thầy – trò trở nên thân thiện hơn bao giờ hết. Trong một môi trường học tập như thế, HS hoàn toàn có đầy đủ tự tin để đưa ra những phản biện để tranh luận với bạn bè, thầy cô về một nội dung nào đó. Và các em sẽ coi đó như là những hoạt động học tập tích cực, sáng tạo. Bằng cách nào có thể tạo được không khí đối thoại, tự do dân chủ? Có nhiều cách và tùy theo từng đối tượng HS khác nhau: Thứ nhất, tạo không khí học tập, kích thích tính tò mò, khả năng khám phá của học sinh. “Làm cho người ta muốn biết, tranh luận, đối thoại, chân lý sẽ xuất hiện” Lý thuyết về tiếp nhận tác phẩm văn chương cũng đã mở ra nhiều hướng phát triển cho giờ học đối thoại.
  9. Thứ hai, hướng vào “phản ứng” của HS và phân loại những ý kiến của các em. Chú ý tập hợp thành hai hay nhiều luồng ý kiến đối lập nhau. Đây chính là cơ sở tuyệt vời để tạo đối thoại. Thứ ba, khéo léo gợi mở, định hướng để các em có cái nhìn so sánh. Nêu ra lí lẽ và dẫn chứng cần thiết để bảo vệ ý kiến của mình. Thứ tư, không nên dùng những “đòn phủ đầu” đối với những ý kiến chưa phù hợp. Hãy tỏ ra trân trọng và lắng nghe, hãy để cho các em trình bày trọn vẹn ý kiến của mình. c. Linh hoạt xuất hiện và ẩn đi nhằm phát huy vai trò của HS -Biện pháp này đề cập đến vai trò của người GV trong giờ học. Có lúc đứng ra làm chủ giờ dạy, có lúc phải “lui vào hậu trường” nhường chỗ cho chủ thể chính hoạt động, lúc này GV chỉ giữ vai trò là người hướng dẫn, cố vấn khi các em cần. -Việc xuất hiện và ẩn đi một cách linh hoạt, nhịp nhàng như vậy sẽ tạo cơ hội cho HS tự do tranh luận, phản biện. Biện pháp này không chỉ vận dụng cho HS giỏi mà cho nhiều đối tượng HS khác nhau trong những tình huống của tiết học có tranh luận, phản biện giữa HS với HS hoặc trong các giờ ngoại khóa, hùng biện theo chủ đề. II. Bài Tập Đề 1 : Quan điểm của anh/ chị về vấn đề: “Ở hiền, gặp lành”. Đây là điều mà nhân dân đã đúc kết trong cuộc sống xã hội: ở hiền sẽ gặp lành. Câu tục ngữ khuyên con người hãy sống tốt, sống cho đúng đạo lý làm người nhưng cũng thể hiện một khát vọng (mà trong thực tế chưa đạt được)- khát vọng công lý. Cho nên chừng nào trong xã hội chưa có sự công bằng, công lý chưa thực sự được thực thi và bao nhiêu những yếu tố ngẫu nhiên, bất ngờ còn tồn tại thì “ở hiền” chưa chắc đã “gặp lành” và “ác giả” chưa chắc đã bị “ác báo”. Đề2 : Anh/chị suy nghĩ như thế nào về chương trình giải trí trên VTV “Gương mặt thân quen”. Đây là chương trình giải trí đã lôi cuốn được số đông khán giả và trong một thời gian dài. Những người tham gia chương trình này đòi hỏi phải hóa thân vào một nghệ sĩ khác (thường là các nghệ sĩ nổi tiếng). Đây là một thử thách. Thế nhưng cần lưu ý rằng “Gương mặt thân quen” thực chất chỉ là sự “bắt chước” và nghệ thuật đích thực không bao giờ chấp nhận sự bắt chước. Khi chúng ta bắt chước người khác thì cũng tự đánh mất chính mình.
  10. Đề 3: Anh/ chị hãy bình luận về hiện tượng thần tượng của giới trẻ hiện nay. “Thần tượng” là một hiện tượng xã hội có ý nghĩa lịch sử, ý nghĩa tư tưởng, văn hóa Trong bản chất thể hiện tình cảm của đám đông với một cá nhân – sự tôn thờ và hành động – bắt chước theo thần tượng. -Xét ở phương diện lịch sử, chúng ta thấy thời nào cũng có thần tượng. Thời trung cổ đó là những bậc thánh, những kẻ tuẫn tiết,tử vì đạo. Trong xã hội phong kiến là những kẻ trung thần. Và tùy theo thời kỳ mà nó thay đổi, biến chuyển. Hoàn cảnh chiến tranh, thần tượng là những bậc anh hùng ái quốc, dám xả thân cho tổ quốc. Chuẩn mực là sự hy sinh. Nhưng thời bình thần tượng gắn với tài năng, sự thành đạt trong một lĩnh vực nào đấy như khoa học, kinh doanh hay thành công trên con đường nghệ thuật như ca nhạc, điện ảnh, người mẫu Loại thần tượng này thiên về sự hưởng thụ. Vì thế, một điều dễ hiểu là hiện nay giới trẻ có xu hướng là tìm cho mình các thần tượng là ca sĩ, diễn viên, người mẫu Thần tượng còn gắn với tâm lý lứa tuổi. Lúc còn bé trong gia đình bố mẹ là thần tượng. Là học sinh, thầy cô giáo là thần tượng. Và lúc ra ngoài đời thần tượng càng lớn lao, đa dạng hơn. Xét ở phương diện văn hóa, thần tượng có tính chất trào lưu. Đó như một thứ “Mốt”. Giới trẻ hiện nay không thủy chung với một thần tượng. Các thần tượng nhanh chóng hết thời và sụp đổ để nhường chỗ cho các thần tượng khác với trào lưu, xu hướng mới. Thần tượng phản ánh thị hiếu thẩm mỹ, trình độ văn hóa, cá tính của mỗi người. Kẻ tôn thờ tài năng, kẻ tôn thờ cái dáng vóc bề ngoài. Kẻ thích, bị cuốn hút bởi sự lịch lãm, tinh tế và sự hiểu biết sâu rộng của thần tượng, kẻ si mê chỉ bởi cách ăn mặc, đầu tóc của thần tượng Thần tượng còn được nhìn trong chiều sâu là ý thức xã hội. Trong xã hội cũ, khi mà cái tôi cá nhân bị kìm hãm thì thần tượng thường đơn nhất, có tính chất bao trùm bền vững. Giữa cá nhân thần tượng và đám đông có khoảng cách của sự chiêm ngưỡng. Nhưng trong xã hội dân chủ, cái tôi được giải phóng thì thần tượng lại đa dạng, gần gũi cụ thể hơn và cũng nhất thời hơn. Thời đại dân chủ tạo điều kiện cho sự khẳng định con người cá nhân, tôn trọng và phát triển cá tính. Thần tượng là cái khuôn mẫu lý tưởng để cá nhân hướng tới, tìm thấy mình trong đó. Rõ ràng vấn đề bình luận cần được mổ xẻ và nhìn nhận từ nhiều góc độ, đòi hỏi người viết có tầm hiểu biết sâu rộng.
  11. Với đề bài này không chỉ dừng lại ở đấy. Các thao tác phân tích, giải thích chỉ là cơ sở cho bình luận – tức chuẩn bị cho sự đánh giá, bàn bạc tiếp theo. Cần nhìn nhận cả mặt trái của vấn đề. Trong thời đại ngày nay với xu hướng cởi mở dân chủ, tôn trọng và tạo điều kiện cho sự phát triển cá tính khi hướng tới thần tượng của mình. Nhưng cái gì cũng có hai mặt. Đấy là khi tôn thờ thần tượng thì cũng dễ trở thành một thứ nô lệ của thần tượng. Và như vậy cá nhân mình chỉ là cái bóng mờ nhạt của thần tượng. Điều đó đi ngược lại với mục tiêu khẳng định cá nhân, trở thành một thứ “ngu tín” thời hiện đại. Từ đấy học sinh có thể bàn rộng về mối quan hệ giữa cá nhân và cộng đồng. Đề 4: Suy nghĩ của anh chị về lòng biết ơn. Trong cuộc sống, lòng biết ơn có ý nghĩa vô cùng quan trọng đối với sự hoàn thiện và phát triển nhân cách con người. Lòng biết ơn là tấm lòng tri ân, luôn ghi nhớ công ơn nuôi dạy, giúp đỡ của người khác với mình. Lòng biết ơn được biểu hiện ở cả trong suy nghĩ lẫn những hành động từ cụ thể đến lớn lao. Đó là suy nghĩ, thái độ trân trọng, kính mến, là hành động trả ơn, báo đáp công ơn của bản thân với những người có ơn với mình. Cụ thể, đất nước Việt Nam đã thể hiện lòng biết ơn của mình bằng những ngày lễ mang tính chất kỉ niệm, tưởng nhớ, ví dụ như ngày 20/11 là ngày để tất cả thế hệ học sinh cả nước tri ân đối với công lao dạy dỗ của thầy cô giáo, ngày 27/7 là ngày ghi nhớ công lao của thương binh liệt sĩ – những người đã hy sinh máu xương, cuộc đời của mình để bảo vệ Tổ quốc Lòng biết ơn có ý nghĩa vô cùng thiêng liêng và là sợi dây để gắn bó tình cảm giữa người với người. Tuy nhiên, trong xã hội hiện nay, có rất nhiều người đi ngược lại với truyền thống đạo lý “Uống nước nhớ nguồn”, có thái độ và hành động vô ơn, “ăn cháo đá bát”. Những hành vi này đều đáng bị lên án để họ có thể nhận thấy lỗi sai, từ đó thay đổi nhận thức, suy nghĩ một cách tích cực nhất.