Ôn tập TN THPT môn Ngữ văn - Chuyên đề: Cách viết phần giải thích, bàn luận trong đoạn văn nghị luận xã hội
Bạn đang xem tài liệu "Ôn tập TN THPT môn Ngữ văn - Chuyên đề: Cách viết phần giải thích, bàn luận trong đoạn văn nghị luận xã hội", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên.
File đính kèm:
on_tap_tn_thpt_mon_ngu_van_chuyen_de_cach_viet_phan_giai_thi.docx
Nội dung tài liệu: Ôn tập TN THPT môn Ngữ văn - Chuyên đề: Cách viết phần giải thích, bàn luận trong đoạn văn nghị luận xã hội
- SỞ GIÁO DỤC ĐÀO TẠO CHUYÊN ĐỀ ÔN TẬP BẮC NINH KÌ THI TỐT NGHIỆP THPT NĂM 2023 Môn: Ngữ văn TÊN CHUYÊN ĐỀ: Cách viết phần giải thích, bàn luận trong đoạn văn nghị luận xã hội (3 đối tượng học sinh) Người biên soạn: Nhóm Ngữ văn Đơn vị công tác: Trường THPT Phố Mới I. LÝ THUYẾT 1/ Dẫn nhập - “ Nghị luận là một thể loại văn học đặc biệt, dùng lí lẽ, phán đoán, chứng cứ để bàn luận về một vấn đề nào đó (chính trị, xã hội, văn học nghệ thuật, triết học, đạo đức). Vấn đề được nêu ra như một câu hỏi cần giải đáp, làm sáng tỏ. Luận là bàn về đúng, sai, phải, trái, khẳng định điều này, bác bỏ điều kia, để người ta nhận ra chân lí, đồng tình với mình, chia sẻ quan điểm và niềm tin của mình. Sức mạnh của văn nghị luận là ở sự sâu sắc của tư tưởng, tình cảm, tính mạch lạc, chặt chẽ của suy nghĩ và trình bày, sự thuyết phục của lập luận. Vận dụng các thao tác như giải thích, phân tích, chứng minh, bác bỏ, so sánh ” (Sách giáo khoa Ngữ Văn 11, tập 2). - Kiểu bài nghị luận xã hội trong chương trình Ngữ văn trung học phổ thông là một đơn vị kiến thức quan trọng góp phần đáp ứng mục tiêu môn học, đáp ứng được những vấn đề mà thực tiễn cuộc sống đang đặt ra và là một trong những nội dung thi trong kì thi Tốt nghiệp THPT môn Ngữ văn. - Phần giải thích và bàn luận rất quan trọng trong đoạn văn Nghị luận xã hội 200 chữ. Nắm chắc được cách viết phần giải thích, bàn luận giúp học sinh có nhận thức đầy đủ, toàn diện hơn về phương pháp học tập, có kĩ năng viết phần giải thích, bàn luận một cách thành thạo, kĩ năng giải quyết tốt các vấn đề thực tiễn. Đồng thời học sinh phát huy tốt khả năng tự học, tự đọc, tự sáng tạo; tích cực tìm hiểu thực tế, trau dồi vốn sống để có thể tự giải quyết các đề bài về kiểu bài này một cách hiệu quả mà không lệ thuộc vào văn mẫu hay dàn ý của giáo viên đưa ra. Góp phần giáo dục đạo đức, nhân cách, lối sống cho học sinh thông qua việc nghiên cứu, tìm hiểu, đánh giá các sự việc, hiện tượng đời sống
- để các em vươn tới những giá trị Chân- Thiện - Mĩ, đáp ứng yêu cầu dạy văn để dạy cách sống, cách làm người. 2/ Cách viết phần giải thích, bàn luận trong đoạn văn NLXH (3 đối tượng học sinh) a/ Lý thuyết về đoạn văn NLXH 200 chữ - Đoạn văn là một bộ phận của văn bản. Mỗi đoạn trong văn bản có một vai trò chức năng riêng và được sắp xếp theo một trật tự nhất định: đoạn mở đầu văn bản, các đoạn thân bài của văn bản (các đoạn này triển khai chủ đề của văn bản thành các khía cạch khác nhau), đoạn kết thúc văn bản. - Đoạn văn Nghị luận xã hội 200 chữ cần bám sát yêu cầu của đề và dựa trên nội dung ở phần đọc hiểu. b/ Kĩ năng viết phần giải thích - Với kiểu bài nghị luận xã hội 200 chữ, kĩ năng giải thích có vai trò quan trọng. Giải thích đúng là điều kiện tiên quyết để xác định trúng vấn đề nghị luận, từ đó có định hướng chính xác để phân tích các khía cạnh của vấn đề, sử dụng lí lẽ, dẫn chứng phù hợp. Kĩ năng giải thích cũng giúp người viết có thể lí giải nguyên nhân các đặc điểm giống, khác nhau của các đối tượng nghị luận, từ đó có những bàn luận sâu sắc về vấn đề. - Trong văn nghị luận, giải thích là “dùng lí lẽ để giảng giải, cắt nghĩa giúp người đọc, người nghe hiểu rõ một hiện tượng, một vấn đề nào đó” (Ngữ văn 10 Nâng cao, tập 2, Nxb Giáo dục, 2018, tr.147). Nhờ vậy, giải thích giúp nâng cao nhận thức, trí tuệ, bồi dưỡng tâm hồn, tình cảm cho con người. Rèn kĩ năng giải thích là giúp học sinh biết cách vận dụng thao tác lập luận giải thích trong quá trình học tập bộ môn Ngữ văn, đặc biệt là trong câu viết đoạn văn nghị luận xã hội 200 chữ. - Với đề nghị luận xã hội, người ra đề thường đưa ra một ý kiến hoặc một vấn đề và yêu cầu học sinh bày tỏ suy nghĩ. Muốn xác định đúng vấn đề xã hội cần nghị luận, giáo viên cần hướng dẫn học sinh tự đặt cho mình các câu hỏi: +Trong đề bài có từ ngữ, hình ảnh nào đáng chú ý? +Nghĩa đen, nghĩa bóng của các từ ngữ, hình ảnh, cách diễn đạt đó là gì?
- Trả lời những câu hỏi trên, các em sẽ xác định được vấn đề cần bàn luận. Phương pháp giải thích được vận dụng phổ biến nhất là nêu định nghĩa. - Ví dụ với đề bài: Có ý kiến cho rằng: Cuộc đời của tôi và bạn là con thuyền vượt qua bao sóng gió. Chúng ta vừa là thuyền trưởng, vừa là hoa tiêu. Hãy nêu suy nghĩ của anh/chị về ý kiến trên. Với đề này, học sinh cần vận dụng thao tác giải thích để giải mã thông điệp mà ý kiến muốn nhắn gửi đến mỗi chúng ta, cũng chính là xác định vấn đề nghị luận. Trước hết các em phải giải thích ý nghĩa các từ ngữ, hình ảnh quan trọng: cuộc đời, con thuyền, thuyền trưởng, hoa tiêu rồi rút ra vấn đề cần bàn luận. *Yêu cầu: + Chỉ giải thích những từ ngữ, hình ảnh còn ẩn ý hoặc chưa rõ nghĩa. + Phải đi từ yếu tố nhỏ đến yếu tố lớn: giải thích từ ngữ, hình ảnh ẩn ý trước rồi mới khái quát ý nghĩa của cả câu nói. + Nên dựa vào nôi dung phần Đọc hiểu để giải thích ý nghĩa, tránh suy diễn tùy tiện. Bởi vì có những câu nói khi đứng độc lập thì nó có ý nghĩa khác so với nghĩa trong văn cảnh + Nếu đề bài không trích dẫn câu nói thì chỉ cần giải thích ngắn gọn khái niệm/ vấn đề cần bàn luận. c/ Kĩ năng viết phần bàn luận - Theo Từ điển Tiếng Việt bàn luận là trao đổi vấn đề nào đó trên cơ sở phân tích lí lẽ. Trọng tâm của bài văn nghị luận xã hội nằm ở phần bàn luận. Học sinh vận dụng tổng hợp các thao tác giải thích, phân tích, chứng minh, bình luận, so sánh. Thao tác giải thích giúp học sinh bàn luận, lí giải về vấn đề sâu sắc, có sức thuyết phục hơn. - Sau khi đã xác định được chính xác vấn đề xã hội cần nghị luận, học sinh có thể tự đặt ra cho mình các câu hỏi như: Ý kiến có đúng không? Tại sao lại nói như vậy? Nguyên nhân của vấn đề là gì? Kĩ năng giải thích sẽ giúp các em trả lời các câu hỏi đó. - Ví dụ cũng với đề nghị luận xã hội vừa dẫn ở phần cách làm phần giải thích, học sinh có thể khẳng định ý kiến đưa ra là đúng và lí giải vì sao nó đúng. Học sinh có thể tự đặt câu hỏi: Vì sao nói “Cuộc đời của tôi và bạn là con thuyền vượt qua bao sóng gió. Chúng ta vừa là thuyền trưởng, vừa là hoa tiêu”. Đây là một hướng vận dụng kĩ năng giải thích vào phần bàn luận với các ý chính:
- Thứ nhất, con đường đời chúng ta đi có thể sẽ gập ghềnh, nhiều chông gai, đầy sóng to, gió lớn. Mỗi người hãy tự làm một con thuyền để chủ động chuẩn bị cho cuộc hành trình của đời mình. Thứ hai, là người thuyền trưởng, ta phải vững tay chèo, vững niềm tin, giàu ý chí, nghị lực để vượt qua phong ba, thác ghềnh hay chính là những thử thách, khó khăn. Thứ ba, là người hoa tiêu, ta phải luôn tỉnh táo, bình tĩnh, xác định đúng hướng đi cho con thuyền. Thứ tư, nếu hoa tiêu xác định đúng đường mà thuyền trưởng lái chệch đi, hoặc thuyền trưởng vững vàng mà hoa tiêu chỉ sai đường thì trong cả hai trường hợp con thuyền khó tránh khỏi bão tố. Hoa tiêu và thuyền trưởng phối hợp chặt chẽ sẽ tạo cho con thuyền thêm sức mạnh và sự dũng mãnh đạp lên đầu sóng, ngọn gió, cập đến bến bờ thành công. Thứ năm, nếu con thuyền đó không có hoa tiêu lẫn thuyền trưởng thì sẽ lênh đênh ngoài biển cả, không biết đâu là bến, là bờ. - Nếu bài có trích dẫn câu nói, học sinh cần khẳng định tính đúng đắn hoặc sai lầm của câu nói. Có thể sử dụng: câu nói đã truyền tải/khẳng định/nêu lên một thông điệp/bài học đúng đắn; Câu nói đã thể hiện/chỉ ra/nêu lên những sai lầm mà ta thường mắc phải Hoặc đối với vấn đề tiêu cực: Nếu sống như thế, ta sẽ tệ đi ra sao? Ngược lại, nếu không sống như thế, ta sẽ có cuộc sống tươi đẹp như thế nào? - Có thể sử dụng các từ nối: Bên cạnh đó, mặt khác, song song đó, đồng thời, ngược lại, tuy nhiên, thứ nhất, thứ hai, thứ ba - Với đề nghị luận về một hiện tượng đời sống, sau khi nêu ra thực trạng, hậu quả, học sinh phải lí giải nguyên nhân của hiện tượng, cả nguyên nhân khách quan và chủ quan. Ví dụ với đề: “Nghĩ về văn hóa xếp hàng của người Việt Nam hiện nay”, có thể giải thích nguyên nhân hiện tượng là do thực tế việc chờ đợi thường quá lâu, thủ tục hành chính rườm rà; đây đó vẫn có hiện tượng tiêu cực, thiếu công bằng, ưu tiên người thân quen, người có tiền. Những người vốn có ý thức xếp hàng cũng mệt mỏi, sợ bị lỡ việc, thậm chí dần mất niềm tin vào sự công bằng. Ngoài ra, nguyên nhân chủ quan là do việc thiếu ý thức tổ chức, kỉ luật, thiếu tinh thần tập thể, luôn muốn nhanh, muốn được việc, muốn hơn người của người Việt.
- *Yêu cầu: + Phân tách các vế của câu nói để xem xét cặn kẽ, thấu đáo. + Khi bàn luận, cần có căn cứ khách quan. II/ BÀI TẬP Đề 1: Hai biển hồ “Người ta ảo ở Paletxtin có hai biển hồ. Biển hồ thứ nhất gọi là biển Chết. Đúng như tên gọi, không có sự sống nào bên trong cũng như xung quanh biển hồ này. Nước trong hồ không có một loài cá nào có thể sống nổi mà người uống vào cũng bị bệnh. Ai ai cũng không muốn sống gần đỏ. Biển hồ thứ hai là Galile. Đây là biển hồ thu hút nhiều khách du lịch nhất. Nước ở biển hồ lúc nào cũng trong xanh mát rượi, con người có thể uống được mà cá cũng sống được. Nhà cửa được xây rất nhiều ở nơi đây. Vườn cây xung quanh tươi tốt nhờ nguồn nước này. Nhưng điêu kì lạ là hai biển hồ đều được đón nhận nguồn nước từ sống Jordan. Nước sông Jordan chảy vào biển chết. Biển Chết đón nhận và giữ lại cho riêng mình mà không chia sẻ nên nước trong biển Chết trở nên mặn chát. Biển hồ Galile cũng đón nhận nguồn nước từ sông Jordan rồi từ đó tràn qua các hồ nhỏ và sông lạch. Nhờ vậy nước trong biển hồ này luôn sạch và mang lại sự sống cho cây cối, muông thú và con người. Một định lí trọng cuộc sống mà ai cũng đồng tinh: một ánh lửa chia sẻ là ánh lửa lan tỏa. Một đồng tiền kinh doanh là một đồng tiền sinh lợi. Đôi môi hé mở mới thu nhận được nụ cười. Bàn tay có mở rộng trao ban, tâm hồn mới tràn ngập vui sướng. Thật bất hạnh cho ai cả cuộc đời chi biết giữ riêng cho mình. “Sự sống” trong họ rồi cũng sẽ chết dần chết mòn như nước trong biển chết” (Trích “Bàị học làm người”– NXBGD) Câu chuyện hai biển hồ đã cho anh chỉ bài học ý nghĩa nào trong cuốc sống? 1/Giải thích: - Nghĩa đen: Biển chết do vị trí hồ không thuận lợi, xung quanh không có kênh rạch, lối thoát, nồng độ muối quá cao, không sinh vật nào sống được. Bởi thế, Biển chết trở nên hoang vu, thiếu sự sống. Biển hồ Galile cũng đón nhận nguồn nước của sông Jordan,
- nhưng từ đó nước tràn qua các hồ nhỏ, sông lạch xung quanh. Bởi thế nước hồ luôn trong sạch và mang lại sự sống. - Nghĩa bóng: Trong cuộc sống hằng ngày, con người có những mối quan hệ, những giao tiếp, những sinh hoạt với mọi người xung quanh. Xã hội sẽ tồn tại, cuộc sống mỗi người được duy trì chính nhờ quá trình giao tiếp này. 2/ Bàn luận - Câu chuyện đem lại bài học có ý nghĩa về Cho và nhận. Biển chết như một biểu tượng cho loại người ích kỉ, thiếu lòng vị tha, nhân hậu, chỉ biết sống cho riêng mình, biết nhận mà không có cho. Cuộc sống như thế chỉ là tồn tại vô nghĩa. Biển Galile là biểu tượng cho những người sống vì người khác, mở rộng tấm lòng cho và nhận, nhờ thế luôn được sống cuộc sống có ý nghĩa, chan hòa và có ích với xung quanh - Nhận thức: Chính cách nhìn và thái độ sống đã chi phối hoàn cảnh sống, tác động đến các mối quan hệ với xung quanh, làm cho nó xấu đi và trở nên tốt đẹp hơn - Bài học: Cuộc sống cần có sự đồng cảm chia sẻ, có cho và nhận. Đây không chì là một thái độ sống cần có để duy trì cuộc sống mà còn là một thái độ sống nhân văn, mang ý nghĩa cao đẹp của xã hội con người Đề 3: Giữa một vùng sỏi đá khô cằn, bông hoa dại vẫn mọc lên những bông hoa thật đẹp. Phát biểu suy nghĩ của anh chị về vấn đề được gợi ra từ hiện tượng trên 1/ Giải thích: - Nghĩa đen:“Vùng sỏi đá khô cằn” là vùng đất xấu, bạc màu, thiếu sức sống. “Bông hoa dại” là hình ảnh của thiên nhiên tươi xanh. Dù môi trường có khắc nghiệt, sự sống vẫn xuất hiện nhờ sức sống mãnh liệt và vẻ đẹp nội tại của cây cối. - Nghĩa bóng: Bông hoa dại là biểu hiện của sức sống phi thường, là ý chí vượt lên nghịch cảnh. Dù hoàn cành sống có khó khăn, khốc liệt, sự sống vẫn xuất hiện, cái đẹp vẫn hiện hữu quanh ta. 2/ Bàn luận – Vươn lên nghịch cảnh để làm nên sự sống đó là một quy luật của tự nhiên và cuộc sống. Nhưng quy luật ấy chỉ trở thành hiện thực khi con người có nghị lực và sức mạnh vươn lên chiến thắng hoàn cảnh, chiến thắng bản thân. – Môi trường sống khắc nghiệt vừa là khó khăn, vừa là thử thách để con người tự khẳng định mình và vững vàng hơn trước phong ba của cuộc đời.
- – Những thành công mà con người đạt được trong nỗ lực có giá trị cao. Vì nó là kết quả của sự cố gắng phi thường, của sự vươn lên không mệt mỏi. – Vẻ đẹp của mọi sự cống hiến, thành công đều quý giá. Nhưng thành công của những người luôn vươn lên nghịch cảnh lại càng có ý nghĩa hơn bởi đó là những chùm hoa thật đẹp, là những “chùm hoa trên đá” theo cách nói của Chế Lan viên Bài hoc: – Người biết chiến thắng bản thân, vươn lên khỏi nghịch cảnh là người đáng được ngưỡng mộ, yêu quý. Họ là niềm tự hào, là động lực của tất cả chúng ta. – Có sức mạnh động viên rất lớn, có tác dụng cảnh tỉnh những ai buông xuôi trước số phận – Cần vun đắp niềm tin vào cuộc sống. Đề 4: “Cái chết không phải là điều mất mát lớn nhất trong cuộc đời. Sự mất mát lớn nhất là bạn để cho cuộc đời tàn lụi ngay từ khi đang sống”. Anh chị có suy nghĩ gì về ý kiến trên? 1/Giải thích: – Cái chết: là cái chết về mặt vật chất, thể xác. – Tâm hồn tàn lụi: cái chết về tinh thần (không biết cảm nhận vẻ đẹp cuộc sống, không biết chia sẻ .), từ đó dẫn đến những ý nghĩ đen tối, hành động sai lầm => để tâm hồn tàn lụi chính là mất mát lớn nhất của cuộc đời con người 2/Bàn luận Tại sao để tâm hồn tàn lụi lại là mất mát lớn nhất? – Con người có đời sống tinh thần và vật chất – Cái chết là mất mát rất lớn, nhưng chỉ là mất đi về thế xác theo một quy luật tất yếu. Cái chết về tinh thần là mất đi toàn bộ ý nghĩa cuộc sống của con người bởi đời sống tâm hồn tàn lụi không chỉ gây tốn hại cho chính bàn thân mà còn gây đau khổ cho những người xung quanh, làm cho xã hội tẻ nhạt, tầm thường, thâm chí nguy hiểm. – Ngược lại, người có tâm hồn sống đẹp sẽ trở nên có ý nghĩa với mình, với xã hội, và những tấm gương cao quý ấy sẽ bất tử với cuộc đời (chứng minh bằng những tấm gương sống đẹp trong lịch sử, trong thực tế, văn học) Rút ra bài hoc
- Câu nói rất sâu sắc với bân thân và mọi người. Cần rèn luyện đời sống tâm hồn mọi lúc, mọi nơi, từ những việc nhỏ cho đến việc lớn đế cuộc sống thật sự có ý nghĩa và có giá trị.

