Ôn tập TN THPT môn Ngữ văn - Chuyên đề: Cách xác định luận điểm trong bài văn nghị luận

docx 8 trang Nguyệt Quế 03/01/2026 130
Bạn đang xem tài liệu "Ôn tập TN THPT môn Ngữ văn - Chuyên đề: Cách xác định luận điểm trong bài văn nghị luận", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên.

File đính kèm:

  • docxon_tap_tn_thpt_mon_ngu_van_chuyen_de_cach_xac_dinh_luan_diem.docx

Nội dung tài liệu: Ôn tập TN THPT môn Ngữ văn - Chuyên đề: Cách xác định luận điểm trong bài văn nghị luận

  1. SỞ GĐ&ĐT BẮC NINH ÔN TẬP THPT NĂM HỌC 2022-2023 CHUYÊN ĐỀ SỐ 15 MÔN :NGỮ VĂN PHẦN I . LÝ THUYẾT I/ ĐẶT VẤN ĐỀ Trong các môn học trong nhà trường THPT có thể nói môn ngữ văn có vai trò hết sức quan trọng , không những tạo điều kiện cho học sinh có kĩ năng nghe, nói, đọc, viết Tiếng việt thành thạo theo các kiểu văn bản và có kĩ năng về phân tích tác phẩm văn học , năng lực cảm thụ cũng như phân tích, đánh giá tác phẩm văn học, từ đó thấu hiểu những thông điệp của nhà văn . Hơn nữa còn giúp các em tiếp nhận các môn khoa học khác một cách tốt hơn.Thực tế năng lực cảm thụ văn chương vào cuộc sống và cách hành văn của các em nhất là văn nghị luận còn yếu. Các em thường sao chép văn mẫu hoặc bê nguyên lời giảng của giáo viên chứ không thể viết ra điều mình nghĩ . Một bộ phận không nhỏ của học sinh chúng ta hiện nay gặp khó khăn trong việc diễn đạt, cách hành văn hay nói đúng hơn là khả năng vận dụng của các em còn rất kém. Một trong những điểm kém nhất của học trò là chưa biết xác định luận điểm trong bài văn nghị luận. Thực tế hiện nay trong chương trình sách giáo khoa ngữ văn THCS cũng như THPT chưa có bài nào dạy cho các em phương pháp xác định luận điểm trong bài văn nghị luận một cách dễ hiểu, có chăng cũng chỉ là những tiết định hướng hung chung như :”Phân tích đề , lập dàn ý cho bài văn nghị luận “( sgk ngữ văn 11 tập 1 -trang 23 ) hay “ Rèn luyện kĩ năng mở bài , kết bài trong văn nghị luận “ (sgk ngữ văn 12 tập 2 trang 112 ) Trong khi đó ,khả năng xác định và triển khai luận điểm của các em rất hạn chế và đó lại là yêu cầu hàng đầu của văn nghị luận (đặc biệt là nghị luận văn học). Thực tế bài văn nghị luận văn học của các em hiện nay chất lượng rất thấp không đảm bảo yêu cầu thể loại , thường là luận điểm không rõ ràng , dài dòng hoặc không chính xác . Thiết nghĩ nếu không sớm khắc phục điểm yếu trên thì việc giảng dạy văn nghị luận trong nhà trường sẽ dần mất đi ý nghĩa thiết thực trong việc học tập môn ngữ văn của học sinh Xuất phát từ vấn đề trên có thể thấy việc hình thành kĩ năng xác định luận điểm trong bài văn nghị luận cho học sinh là vô cùng cần thiết giúp các em cảm nhận được cái hay của nghệ thuật ngôn từ qua mỗi tác phẩm văn học được tìm hiểu. Đối tượng nghiên cứu
  2. và thực thi chuyên đề của chúng tôi là những em học sinh thi tốt nghiệp THPT đạt từ 5-7 điểm . II/NỘI DUNG 1.Thực trạng của việc làm văn nghị luận khi đi tìm luận điểm. Một thực tế đáng buồn là rất nhiều em học sinh đang học lớp 10, 11 thậm chí 12 vẫn chưa nắm được cách làm văn nghị luận bằng chứng là qua các bài viết các em đã bộc lộ những yếu kém đó . Đối với những tác phẩm văn xuôi thường có yêu cầu phân tích nhân vật hay một vấn đề nào đó, học sinh thường kể lể, thậm chí kể lan man Mặc dù yêu cầu của đề là cảm thụ , đánh giá chứ không phải là kể lại câu chuyện . Nhiều bài viết dài nhưng không xác định được luận điểm , luận điểm dài dòng hay luận điểm lặp . 2. Luận điểm là gì? Luận điểm là những tư tưởng hoặc đơn giản đó là những quan điểm mà người viết đang muốn truyền tải. Ngoài ra, luận điểm được coi là lập luận chính của vấn đề chính đang được thảo luận, nghị luận. Luận điểm thường rất rõ ràng, nhằm nêu lên nội dung chủ đề cần đang được nói đến. Một vấn đề được đặt ra sẽ có từ một đến rất nhiều luận điểm. Luận điểm phải đúng đắn, có tính chân thật, phải đáp ứng những nhu cầu thực tế thì mới có sức thuyết phục và thu hút mọi người. Vínhằcần dụ: “Việc đọc sách sẽ mang lại nhiều lợi ích đối vơđm chính, cược toàn hính và _Luận cứ là các vấn đề được đặt ra để làm rõ một điểm. Thường được coi là một ý cụ thể giải thích và chứng minh vấn đề chung của luận điểm chính. Luận cứ thường được liên kết chặt chẽ với nhau để chứng minh và làm rõ những điểm chính của toàn bộ bài. Ví dụ là: Sách giúp con người nhận thức thế giới, sách giúp con người yêu thương và chia sẻ. Luận cứ của câu này giúp làm nổi bật của luận điểm chính là vai trò của việc đọc sách. 3 Vai trò của luận điểm • Luận điểm có vai trò quan trọng và ý nghĩa lớn, nó được coi như là xương sống của việc lập luận. Bởi vì, không chỉ trong văn nghị luận mà bình thường trong tranh luận cũng cần phải quan tâm đến luận điểm là gì, và đưa ra luận cứ như thế nào. Để bài văn trở nên hấp dẫn và cuốn hút. Luận điểm phải thực sự sắc bén và có tính chắc chắn cao. Đồng thời cũng cần có “sức nặng” để khi đọc, người khác thấy bản thân bị thuyết phục bởi luận điểm này.
  3. • Luận điểm đưa ra có chính xác, có tính thuyết phục thì mới có thể tạo nên một bài nghị luận hay. Luận điểm có thể nói là quan trọng nhất. Bởi nếu xác định không đúng luận điểm thì bài văn nghị luận của bạn dù có đưa ra những dẫn chứng xuất sắc đến đâu cũng trở nên vô nghĩa. • Các luận điểm phải có tính đúng đắn, bao quát, đặt ra các câu hỏi cần tranh luận và trả lời thuyết phục cho những câu hỏi đó. Bên cạnh đó là phản biện về những lập luận đối lập và những phần chưa làm rõ trong lập luận của bản thân 4. Cách xác định luận điểm trong văn bản Đối với một văn bản nghị luận để xác định được luận điểm của bài là gì thì trước hết học sinh cần xác định đùng vấn đề nghị luận. Hiện nay thì cách ra đề trong làm văn nghị luận đã mở rộng hơn rất nhiều. Có thể là đưa ra cụ thể luận điểm và hỏi về tính đúng đắn của luận điểm đó là gì. Có trường hợp đề mở khi chỉ cho một đoạn trích và yêu cầu đưa ra ý kiến về đoạn trích đó. Và cũng có cách ra đề khác nêu cảm nhận và liên tưởng về “một luận điểm” của đoạn trích. Ở mỗi cách ra đề làm văn nghị luận khác nhau thì cần phải biết linh hoạt để lựa chọn cách thức nói lên luận điểm chính là gì cho phù hợp. Đối với những đề bài có sẵn đoạn trích, thì đó sẽ là tài liệu giá trị để bạn nhận định xem đâu là ý chính, luận điểm là gì thông qua nội dung của đoạn trích dẫn đó. Để hiểu rõ hơn về cách xác định luận điểm là gì, dưới đây là các bước hướng dẫn các bạn một số cách cụ thể để nhận biết luận điểm trong văn bản nghị luận đơn giản mà chính xác như sau: • Dựa vào các dữ liệu có sẵn trong đề bài (ví dụ như: những thông tin, những luận cứ, dẫn chứng trong bài được nêu ra) • Dựa vào cách đặt các câu hỏi (Để nhận diện được đâu là luận điểm hãy quan trọng hóa cách chúng ta đặt câu hỏi liên quan và xoay quanh chủ đề bài văn) • Dựa vào cách thức nghị luận (Phương thức nghị luận cũng là yếu tố để giúp chúng ta biết được khoảng vị trí mà luận điểm chính được đặt trong bài) Tuy nhiên, tất cả vẫn chỉ là lý thuyết bởi trên thực tế trong một văn bản nghị luận có thể chứa rất nhiều luận điểm. Và luận điểm chính là gì? Đó là luận điểm nổi bật nhất, là luận điểm trung tâm và là quan điểm quan trọng nhất mà bài viết cần phải làm sáng tỏ. Như vậy để có thể “tô điểm” và tạo sự tin cậy cho luận điểm chính ta cần có thêm hệ thống các luận điểm với mục đích là để giải thích, tường minh ý nghĩa của luận điểm chính là gì. Vì thế trong một bài văn nghị luận, việc xuất hiện các luận điểm 1, luận điểm 2, luận điểm 3, luận điểm n là hoàn toàn bình thường. Chỉ cần những luận điểm thứ chính ấy đủ tính khoa học và logic, đủ sắc bén và đáng tin đối với người đọc thì sẽ giúp cho lập luận của
  4. bản thân có giá trị và mang tính thuyết phục hơn. Vì vậy đừng chỉ chú tâm vào luận điểm trung tâm mà quên đi rằng cả luận điểm thứ chính, luận cứ, luận chứng cũng cần được trau chuốt để nó mang lại giá trị tranh luận cao hơn. •. 5: Cách trình bày luận điểm Trình bày luận điểm là cách trình bày lý lẽ và đưa ra các luận điểm, dẫn chứng. Mọi người thường trình bày lý lẽ của mình bằng phương pháp diễn dịch và quy nạp. Phương pháp diễn dịch: câu chủ đề ở đầu đoạn văn là luận điểm chính. Ví dụ: “Chúng ta có sức mạnh tổng hợp của tất cả các dân tộc, vì vậy chúng ta phải chiến thắng. Trận chiến của chúng ta là công bằng, vì vậy chúng ta nhất định phải thắng”. (Gửi đồng bào miền Nam – Thành phố Hồ Chí Minh) Lập luận chính là câu chủ đề được đặt ở cuối đoạn văn, được gọi là quy nạp. Ví dụ: “Những người đã chiến đấu anh dũng chống lại ách nô lệ của Pháp trong hơn 80 năm, những người đã chiến đấu anh dũng chống lại chủ nghĩa phát xít, những người này phải được tự do! Nhân dân phải được tự do!” Chúng ta phải được độc lập! “. (Tuyên ngôn Độc lập – Thành phố Hồ Chí Minh) Mỗi luận điểm được trình bày thành một đoạn văn hoặc gồm nhiều đoạn văn. Mỗi đoạn văn ấy sẽ chứa một luận cứ. Bài văn sẽ rõ ràng, khúc chiết. Người đọc dễ nắm bắt luận điểm, có cái nhìn khái quát về toàn bộ bày viết. Đồng thời nó cũng thể hiện được ý đồ của tác giả. III .KẾT THÚC VẤN ĐỀ Việc xác định luận điểm vô cùng quan trọng. Ngoài việc nó là một phương pháp khoa học khi đi vào nghiên cứu tác phẩm văn chương. Nó định hướng cho học sinh cách triển khai bài viết khi đứng trước yêu cầu của đề. Thì việc học cách xác định các luận điểm cũng vô cùng cần thiết trong cuộc sống, đặc biệt là khi cần thuyết phục người nghe về một quan điểm cá nhân. Nó là mấu chốt để tạo được hiệu quả giao tiếp tốt nhất. PHẦN II: BÀI TẬP
  5. Nhưng trong các làng Mèo Đỏ, những chiếc váy hoa đã đem ra phơi trên mỏm đá xòe như con bướm sặc sỡ. ( ) Đám trẻ đợi Tết, chơi quay, cười ầm trên sân chơi trước nhà. Ngoài đầu núi lấp ló đã có tiếng ai thổi sáo rủ bạn đi chơi. Mị nghe tiếng sáo vọng lại, thiết tha bổi hổi. Mị ngồi nhẩm thầm bài hát của người đang thổi. Mày có con trai con gái rồi Mày đi làm nương Ta không có con trai con gái Ta đi tìm người yêu. Tiếng chó sủa xa xa. Những đêm tình mùa xuân đã tới. Ở mỗi đầu làng đều có một mỏm đất phẳng làm cái sân chơi chung ngày Tết. Trai gái, trẻ con ra sân ấy tụ tập đánh pao, đánh quay, thổi sáo, thổi khèn và nhảy. Cả nhà thống lí Pá Tra vừa ăn xong bữa cơm Tết cúng ma. Xung quanh, chiêng đánh ầm ĩ, người ốp đồng vẫn còn nhảy lên xuống, run bần bật. Vừa hết bữa cơm lại tiếp ngay bữa rượu bên bếp lửa. Ngày Tết, Mị cũng uống rượu. Mị lén lấy hũ rượu, cứ uống ực từng bát. Rồi say, Mị lịm mặt ngồi đấy nhìn mọi người nhảy đồng, người hát, nhưng lòng Mị thì đang sống về ngày trước. Tai Mị văng vẳng tiếng sáo gọi bạn đầu làng. Ngày trước, Mị thổi sáo giỏi. Mùa xuân này, Mị uống rượu bên bếp và thổi sáo. Mị uốn chiếc lá trên môi, thổi lá cũng hay như thổi sáo. Có biết bao nhiêu người mê, ngày đêm đã thổi sáo đi theo Mị. Rượu đã tan lúc nào. Người về, người đi chơi đã vãn cả. Mị không biết, Mị vẫn ngồi trơ một mình giữa nhà. Mãi sau Mị mới đứng dậy, nhưng Mị không bước ra đường chơi, mà từ từ bước vào buồng. Chẳng năm nào A Sử cho Mị đi chơi Tết. Mị cũng chẳng buồn đi. Bấy giờ Mị ngồi xuống giường, trông ra cái cửa sổ lỗ vuông mờ mờ trăng trắng. Đã từ nãy, Mị thấy phơi phới trở lại, trong lòng đột nhiên vui sướng như những đêm Tết ngày trước. Mị trẻ lắm. Mị vẫn còn trẻ. Mị muốn đi chơi. (Trích Vợ chồng A Phủ, Tô Hoài, Ngữ văn 12, tập hai, NXB GD Việt Nam, 2020, tr 7) Phân tích tâm trạng nhân vật Mị trong đoạn trích trên; từ đó, nhận xét chất thơ trong văn xuôi của nhà văn Tô Hoài được thể hiện trong đoạn trích.
  6. 2 Phân tích tâm trạng nhân vật Mị trong đoạn văn; nhận xét 5.0 chất thơ trong văn xuôi của Tô Hoài a.Đảm bảo cấu trúc bài văn nghị luận: 0.25 Mở bài nêu được vấn đề nghị luận, Thân bài triển khai được vấn đề, Kết bài khái quát được vấn đề. b.Xác định đúng vấn đề nghị luận 0.5 Tâm trạng nhân vật Mị trong một đoạn văn; chất thơ trong văn xuôi của Tô Hoài. c. Triển khai vấn đề nghị luận thành các luận điểm Thí sinh có thể triển khai nhiều cách, nhưng cần vận dụng tốt các thao tác lập luận, kết hợp chặt chẽ giữa lí lẽ và dẫn chứng, đảm bảo các yêu cầu sau: *Giới thiệu khái quát về tác giả Tô Hoài, tác phẩm ‘Vợ chồng A 0.5 Phủ’ và đoạn trích
  7. *Phân tích tâm trạng nhân vật Mị trong đoạn văn 2.0 -Tâm trạng Mị được tác động bởi những yếu tố khách quan. Đó là những đêm tình mùa xuân ở Hồng Ngài với không gian đậm chất trữ tình của mùa xuân và âm thanh tiếng sáo +Mị nghe tiếng sáo, nhẩm thầm bài hát của người thổi sáo, tâm hồn Mị náo nức hồi sinh. +Mị uống rượu, Mị đang sống về những ngày trước với một quá khứ tươi đẹp, hạnh phúc +Những kí ức đẹp đã khơi dậy trong lòng ham sống và ý thức rõ về quyền sống, quyền tự do, hạnh phúc: ‘Mị trẻ lắm. Mị vẫn còn trẻ. Mị muốn đi chơi.’ -Tâm trạng của Mị được thể hiện qua nghệ thuật phân tích nhân 0.5 vật sắc sảo; giọng điệu trần thuật hấp dẫn (giọng kể của tác giả hòa vào những lời độc thoại nội tâm của nhân vật tạo nên ngôn ngữ nửa trực tiếp); ngôn ngữ giản dị ,đậm sắc màu Tây Bắc; thể hiện vốn hiểu biết phong phú về phong tục tập quán vùng miền của nhà văn *Nhận xét chất thơ trong đoạn trích 0.5 -Chất thơ hiện lên qua vẻ đẹp của bức tranh thiên nhiên Tây Bắc , của đêm tình mùa xuân với những phong tục tập quán miền núi khi Tết đến xuân về. -Chất thơ thể hiện ở tâm hồn nhân vật Mị với khát vọng sống, khát vọng tự do và lòng yêu đời mãnh liệt. -Ngôn ngữ thấm đẫm chất thơ với các âm thanh, hình ảnh gợi hình, gợi cảm,, nên thơ và sống động;; chất thơ thể hiện ở khả năng diễn đạt tài tình với những rung cảm tinh tế trong sự đa cung bâc và muôn sắc màu của thế giới tình cảm. - Chất thơ thể hiện tài năng nghệ thuật, tình yêu thiên nhiên và tấm lòng của nhà văn đối với con người; tạo sự cuốn hút; góp phần thể
  8. hiện vẻ riêng, độc đáo trong phong cách nghệ thuật của ngòi bút Tô Hoài.