Ôn tập TN THPT môn Ngữ văn - Chuyên đề: Cách xây dựng luận điểm trong bài văn nghị luận về văn xuôi

docx 15 trang Nguyệt Quế 03/01/2026 130
Bạn đang xem tài liệu "Ôn tập TN THPT môn Ngữ văn - Chuyên đề: Cách xây dựng luận điểm trong bài văn nghị luận về văn xuôi", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên.

File đính kèm:

  • docxon_tap_tn_thpt_mon_ngu_van_chuyen_de_cach_xay_dung_luan_diem.docx

Nội dung tài liệu: Ôn tập TN THPT môn Ngữ văn - Chuyên đề: Cách xây dựng luận điểm trong bài văn nghị luận về văn xuôi

  1. SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO CHUYÊN ĐỀ SỐ 15 BẮC NINH KỲ THI TỐT NGHIỆP THPT NĂM 2022-2023 Môn: Ngữ văn CHUYÊN ĐỀ: CÁCH XÂY DỰNG LUẬN ĐIỂM TRONG BÀI VĂN NGHỊ LUẬN VỀ VĂN XUÔI Người soạn: Nguyễn Thảo Chi, Trần Thị Phương Oanh Đơn vị công tác: TTGDNN-GDTX tỉnh Bắc Ninh A. LÝ THUYẾT I. KHÁI QUÁT VỀ VĂN NGHỊ LUẬN Nghị luận văn học về văn xuôi là dạng văn bản dùng để bày tỏ sự cảm thụ tác phẩm văn học văn xuôi theo suy nghĩ của cá nhân, là những lý lẽ để đánh giá, phân tích, bàn bạc về vấn đề thuộc lĩnh vực văn học để khám phá thế giới nội tâm của tác giả, đồng thời tìm ra những giá trị thuyết phục người khác nghe theo quan điểm, ý kiến cá nhân của mình. – Các khái niệm cơ bản của văn nghị luận: Luận đề: là vấn đề đang được đưa ra bàn bạc, bình luận. Luận điểm: là các ý lớn, ý chính giúp làm sáng rõ cho vấn đề đang được bàn bạc, bình luận. Lập luận: là cách thức trình bày các lí lẽ, dẫn chứng sao cho phù hợp, chặt chẽ, mang tính thuyết phục cao. Luận cứ: là cơ sở, căn cứ, điểm tựa đưa ra để lập luận. Luận chứng: là chứng cứ minh họa cụ thể đưa ra để lập luận. – Nghị luận văn học là một dạng nghị luận mà các vấn đề đưa ra bàn luận là các vấn đề về văn học: tác phẩm, tác giả, thời đại văn học có tính luận thuyết. Chính vì vậy mà nó đòi hỏi người viết phải có khả năng trình bày tư tưởng của mình và thuyết phục được người khác theo quan điểm đó. – Yêu cầu bài văn nghị luận: * Về kiến thức: Hiểu biết các vấn đề về: tư tưởng đạo lí, triết lí nhân sinh, lịch sử, xã hội, văn hóa và đưa ra được quan điểm cá nhân về các vấn đề đó. Về kĩ năng: Nắm vững các thao tác lập luận như: giải thích, phân tích, chứng minh, so sánh, bình luận, bác bỏ, tổng hợp Văn nghị luận có thể có các chi tiết tự sự, biểu cảm, miêu tả, thuyết minh nhưng nó phải nhằm mục đích nghị luận. – Bố cục của bài văn nghị luận gồm ba phần cụ thể: 1. Mở bài – Giới thiệu vấn đề nghị luận. – Dẫn ra vấn đề cần nghị luận. – Khái quát vấn đề nghị luận.
  2. 2. Thân bài – Làm rõ vấn đề nghị luận bằng sự kết hợp các thao tác lập luận như: giải thích, phân tích, chứng minh, so sánh, bình luận, bác bỏ, tổng hợp – Đánh giá và mở rộng vấn đề. 3. Kết bài – Khái quát lại vấn đề vừa nghị luận. – Liên hệ thực tế, bản thân. II. CÁCH MỞ BÀI CHO BÀI VĂN NGHỊ LUẬN VỀ VĂN XUÔI 1. Sơ lược - Để viết một mở bài đúng, trước hết phải xác định vấn đề được nêu ở đề bài, là tác giả hay tác phẩm, là yêu cầu về nội dung hay hình thức, là đề đóng (chìm) hay đề mở (nổi). Sau khi xác định đúng vấn đề, phải có những kiến thức nền tảng cơ bản và khái quát nhất để viết mở bài. - Để viết mở bài hay, phải đọc nhiều, vận dụng các cách diễn đạt mượt mà, bóng bẩy đã học được từ các tài liệu tham khảo. Để mở bài mượt mà hơn, lưu ý nên viết các câu dài, câu ghép, câu phức nhiều thành phần và tăng cường sử dụng các tính từ miêu tả, biểu cảm. M. Goor-ki đã từng kết luận: Khó hơn cả là phần mở đầu, cụ thể là câu đầu, cũng như trong âm nhạc, nó chi phối giọng điệu của tác phẩm mà người ta thường tìm nó rất lâu. Với yêu cầu đặt ra của việc viết đoạn mở bài một cách nhanh chóng, đảm bảo các yêu cầu chức năng của nó làm cho không ít học sinh cảm thấy khó khăn. - Để có một mở bài hấp dẫn. Trước hết, chúng ta cần nắm rõ nguyên tắc khi viết mở bài là: ngắn gọn, hấp dẫn, chỉ ra hướng giải quyết, phạm vi giải quyết vấn đề, tầm quan trọng, ý nghĩa của vấn đề để chuẩn bị tư tưởng cho người đọc theo dõi phần nội dung. Cũng xin lưu ý thêm với các em học sinh một số vấn đề cần tránh khi mở bài: + Tránh dẫn dắt vòng vo xa quá mãi mới gắn được vào việc nêu vấn đề. + Tránh ý dẫn dắt không liên quan gì đến vấn đề sẽ nêu. + Tránh nêu vấn đề quá dài dòng, chi tiết, có gì nói hết luôn rồi thân bài lặp lại những điều đã nói ở phần mở bài. 2. Một số cách mở bài thường áp dụng Thông thường viết phần mở bài có hai cách mở: mở trực tiếp (đi thẳng vào vấn đề); mở gián tiếp (dẫn dắt câu thơ, câu văn) để làm cầu nối cho ý tiếp sau. a.Mở bài trực tiếp(trực khởi) – Giới thiệu trực tiếp là đi thẳng vào vấn đề nghị luận đặt ra trong đề bài, đi từ cái chung đến cái riêng, từ khái quát đến cụ thể. Lưu ý: Khi giới thiệu vài nét về tác giả nên tập trung vào phong cách nghệ thuật, đặc trưng riêng, nét độc đáo khác biệt hơn là giới thiệu một cách máy móc về năm sinh, năm mất, tên thật, quê quán, năm mấy tuổi làm gì Giới thiệu vài nét về tác phẩm nên tập trung vào xuất xứ, hoàn cảnh sáng tác, vị trí của tác phẩm trong sự nghiệp của tác giả trên văn đàn văn học của dân tộc. – Ví dụ minh họa: Phân tích tác phẩm Vợ chồng A Phủ của nhà văn Tô Hoài để thấy được ý nghĩa nhân đạo cao đẹp trong thiên truyện.
  3. Vợ chồng A Phủ là một trong những truyện ngắn đặc sắc được rút trong tập Truyện Tây Bắc của nhà văn Tô Hoài, tác phẩm được giải Nhất về truyện ngắn của Hội Văn nghệ Việt Nam năm 1954 – 1955. Đây là tác phẩm văn xuôi tiêu biểu viết về đề tài miền núi thời kì chống Pháp. Thông qua số phận của Mị và A Phủ, nhà văn Tô Hoài đã đem đến cho chúng ta một sự nhận thức đúng đắn, đầy đủ về tội ác của bọn thực dân Pháp và bọn địa chủ phong kiến, cũng như về đời sống tăm tối, khổ nhục của những người dân lao động trên miền cao vùng Tây Bắc. Từ thân phận nghèo khổ và sức mạnh tiềm tàng trong mỗi con người lao động ở đây, tác phẩm đã thể hiện một cách chân thực, sinh động quá trình thức tỉnh, con đường đến với cách mạng và trở thành lực lượng đáng tin cậy của Đảng trong sự nghiệp giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp của người nông dân miền núi. Qua tác phẩm ca ngợi ý nghĩa nhân đạo đẹp đẽ của sự nghiệp giải phóng con người ra khỏi ách áp bức bóc lột. b. Mở bài gián tiếp (lung khởi) – Mở bài gián tiếp là dẫn dắt vào đề bằng cách nêu các ý có liên quan đến vấn đề cần nghị luận để kích thích trí tò mò, gợi sự chú ý của người đọc rồi từ đó mới nêu lên vấn đề chính. – Khi sử dụng cách mở bài gián tiếp, người viết cần lựa chọn điểm xuất phát sao cho: từ đó có thể dẫn đến đề tài; có khả năng tạo ra cảm giác gần gũi, quen thuộc với người đọc (người nghe) có sự gợi nghĩ (gợi cảm). Để bài viết có không khí tự nhiên và có chất văn, người ta thường mở bài theo kiểu gián tiếp. – Dù viết mở bài gián tiếp theo cách nào thì trong đó cũng cần làm rõ ba vấn đề chính: Nêu ngắn gọn về tác giả, tác phẩm, xuất xứ; Nêu vấn đề (dựa vào gợi ý ở đề bài); Nêu cảm nhận của mình về vấn đề. – Ví dụ minh họa: Phân tích diễn biến tâm trạng bà cụ Tứ trong tác phẩm Vợ nhặt của Kim Lân. B. Sô đã từng nói: Vũ trụ có nhiều kì quan, nhưng kì quan tuyệt diệu nhất vẫn là trái tim người mẹ. Quả thật vậy, trái tim của người mẹ luôn là kì quan vĩ đại, là tòa bảo tháp ngự trị vĩnh hằng và sừng sững giữa cuộc đời. Tác phẩm văn học, nhất là những tác phẩm viết về người mẹ luôn là những tác phẩm thành công nhất. Văn học Việt Nam cũng đã từng ghi nhận những đóng góp lớn lao ấy về người mẹ. Một trong những tác phẩm tạo nên niềm xúc động sâu sắc về người mẹ phải kể đến truyện ngắnVợ nhặt của nhà văn Kim Lân. Dưới ngòi bút tài hoa và tinh tế của Kim Lân vốn một đời đi về với ruộng đồng và thuần hậu nguyên thủy của làng quê, vẻ đẹp lớn lao kì vĩ của trái tim người mẹ và tình mẫu tử thắm thiết thiêng liêng cũng ngời lên trọn vẹn và sâu sắc qua diễn biến tâm trạng của nhân vật bà cụ Tứ. c. Một số kiểu mở bài gián tiếp * Mở bài theo kiểu diễn dịch tức là nêu những ý khái quát hơn vấn đề đặt ra trong đề bài rồi mới bắt vào vấn đề ấy. * Mở bài theo kiểu quy nạp tức là nêu lên những ý nhỏ hơn vấn đề đặt ra trong đề bài rồi tổng hợp lại thành vấn đề cần nghị luận. * Mở bài theo kiểu tương liên (tương đồng) là mở bài bằng cách bắt đầu nêu lên một ý tương tự hoặc có liên quan với ý của luận đề, có tác dụng gợi ra sự liên tưởng rồi chuyển sang luận đề.
  4. – Ví dụ minh họa: Phân tích nhân vật Mị trong tác phẩm Vợ chồng A Phủ của nhà văn Tô Hoài. (1) Chúng ta đã gặp không ít những số phận người phụ nữ bi thương trong các tác phẩm văn học Việt Nam, đó là một nàng Vũ Nương oan khuất, một nàng Kiều bi kịch, một chị Dậu tủi hờn (2) Nhưng khi tiếp cận với dòng văn học cách mạng, vẫn những người phụ nữ ngày xưa ấy lại trỗi dậy mạnh mẽ đứng dậy làm chủ đời mình. (3) Một trong những nhân vật văn học nữ tiêu biêu biểu là Mị trong tác phẩm Vợ chồng A Phủ của Nhà văn Tô Hoài. ÞĐây là đoạn mở bài theo kiểu tương liên: Câu (1) đưa ra dẫn chứng về những số phận bi thương của người phụ nữ trong văn học xưa và nay. Câu (2) dẫn dắt vào vấn đề (khi tiếp cận với dòng văn học cách mạng ). Câu (3) thâu tóm vấn đề cần bàn luận từ câu (1) và câu (2). Mở bài bằng cách đặt câu hỏi (nghi vấn) là kiểu mở bài mà người viết tự đề xuất câu hỏi về vấn đề cần bàn. Trả lời câu hỏi chính là cách giải quyết vấn đề, nêu lên được vấn đề cần bàn bạc. Nói chung có nhiều cách mở bài khác nhau. Phần lớn, học sinh sử dụng cách viết mở bài theo lối gián tiếp. Trong năm kiểu nhỏ của cách mở bài gián tiếp thì kiểu mở bài theo lối tương liên đòi hỏi người viết phải có kiến thức rộng, có hiểu biết về những vấn đề liên quan cần nghị luận và phải có cảm nhận tinh tế trước mọi vấn đề để nhìn vào đó có thể tìm ra mối quan hệ tương liên; còn kiểu mở bài theo lối tương phản thường áp dụng cho học sinh có cảm thụ tốt, nhuần nhuyễn và điêu luyện, vì nội dung của nó tương đối phức tạp. Hai kiểu mở bài này phổ biến đối với học sinh khá, giỏi. Như vậy, để viết được đoạn mở bài hay không chỉ đảm bảo đầy đủ nội dung, tức là thực hiện được chức năng nêu vấn đề của nó, cũng như có phương pháp (kĩ năng) dẫn dắt vấn đề. III. VIẾT PHẦN THÂN BÀI CHO BÀI VĂN NGHỊ LUẬN VĂN HỌC VỀ VĂN XUÔI 1. Phương thức khi viết thân bài Thân bài là phần giải quyết vấn đề, phần trung tâm của một bài văn, đoạn văn nghị luận. Vì vậy, khi viết thân bài cần kết hợp nhiều thao tác và có nhiều phương thức trình bày khác nhau theo yêu cầu của đề bài. Tuy nhiên, về cơ bản, viết thân bài thân đoạn cần tuân theo các bước cơ bản sau: (1) Tìm ý, chọn lọc ý¨ (2) Sắp xếp ý thành kết cấu¨ (3) Chọn thao tác, phương thức lập luận, chọn dẫn chứng, lí lẽ¨ (4) Viết đoạn văn. Bước 1. Tìm ý, chọn lọc ý – Đọc thật kĩ đề bài xem đề yêu cầu gì? (Tìm dạng đề). – Ngữ liệu (nếu có) có nội dung chính là gì? Nghĩa đen, nghĩa bóng? (Tìm luận đề) – Có thể chia nhỏ các vấn đề/ ngữ liệu đề cho thành tác phẩm nhỏ không? (Tìm cơ sở chia luận điểm). – Để thực hiện yêu cầu của đề, ta cần thực hiện những nhiệm vụ nào? (Tìm luận điểm). – Cần lật ngược vấn đề hay mở rộng vấn đề không? (Tìm ý bàn bạc luận đề).
  5. Bước 2. Sắp xếp ý thành kết cấu – Người viết muốn sắp xếp các ý theo trình tự nào? – Những ý nào cần trình bày trước, những ý nào trình bày sau? – Việc sắp xếp các ý như vậy đã hợp lí chưa? – Thân bài chia thành mấy ý chính? Bước 3. Chọn thao tác, phương thức lập luận, chọn dẫn chứng, lí lẽ – Trong mỗi ý chính cần những dẫn chứng, lí lẽ nào? (Tìm luận cứ). – Ở mỗi ý cần sử dụng những thao tác lập luận nào? (Tìm cách lập luận). – Mỗi đoạn sẽ sử dụng phương thức lập luận nào? (Tìm phương thức lập luận). Bước 4. Viết đoạn văn – Độ dài mỗi ý khoảng bao nhiêu? Tổng độ dài thân bài là bao nhiêu? – Khi viết xong, luận đề đã sáng tỏ chưa? – Các ý có thống nhất và liên kết chặt chẽ với nhau không? – Câu chữ đã sáng rõ, mạch lạc chưa? 2. Các yêu cầu nội dung cơ bản khi viết phần thân bài – Hành văn mạch lạc. – Giải quyết luận đề, luận điểm hợp lí và thuyết phục. – Các luận điểm trong phần thân đoạn phải có sự liên kết chặt chẽ. IV. CÁCH VIẾT PHẦN KẾT BÀI TRONG VĂN NGHỊ LUẬN VĂN HỌC VỀ VĂN XUÔI 1. Cách kết bài đạt hiệu quả Phần Kết bài có nhiệm vụ tổng kết, đánh giá vấn đề đặt ra ở Mở bài và đã giải quyết ở Thân bài. Phần này góp phần tạo tính hoàn chỉnh, trọn vẹn cho bài văn. Tùy vào mục đích nghị luận, người viết có thể sử dụng một trong các cách kết bài sau đây: a. Kết bài bằng cách tóm lược – Là kiểu kết bài mà ở đó người viết tóm tắt quan điểm, tổng hợp những ý chính đã nêu ở Thân bài. Cách kết bài này dễ viết hơn và thường được sử dụng nhiều hơn. – Ví dụ minh họa: Từ cuộc đời của các nhân vật phụ nữ trong hai tác phẩm Vợ nhặt(Kim Lân) và Vợ chồng A Phủ(Tô Hoài), anh (chị) hãy phát biểu suy nghĩ của mình về số phận người phụ nữ xưa và nay. Như vậy, các nhân vật nữ trong hai tác phẩm Vợ nhặt (Kim Lân) và Vợ chồng A Phủ(Tô Hoài) có nhiều điểm chung. Họ đều là những người phụ nữ có số phận bất hạnh, cơ cực nhưng trong tâm hồn họ đều tiềm tàng một sức sống và ý thức vươn lên. Người phụ nữ ngày nay có nhiều khác biệt, họ đã biết khẳng định vị trí của mình trong xã hội và càng ngày càng vươn tới những đỉnh cao mới. b. Kết bài bằng cách bình luận mở rộng và nâng cao – Là kiểu kết bài trên cơ sở quan điểm chính của bài viết, bằng liên tưởng, vận dụng, người viết phát triển, mở rộng nâng cao vấn đề. – Ví dụ minh họa: Từ cuộc đời của các nhân vật phụ nữ trong hai tác phẩm Vợ nhặt(Kim Lân) và Vợ chồng A Phủ (Tô Hoài), anh (chị) hãy phát biểu suy nghĩ của mình về số phận người phụ nữ xưa và nay. Làm thế nào để một nửa thế giới luôn được sống hạnh phúc và ngày càng được hạnh phúc hơn? Làm thế nào để tất cả phụ nữ Việt Nam luôn ngập tràn trong tiếng cười? Và làm như
  6. thế nào để mỗi người phụ nữ không còn khổ đau? Đó là những câu hỏi không dành riêng cho bất cứ ai, không dành riêng cho phái nam mà chính những người phụ nữ cũng phải trả lời chúng. 2. Mẹo viết phần kết bài trong tình thế cấp bách – Tình thế cấp bách là khi sắp hết giờ, hoặc khi tâm lí căng thẳng, chúng ta không thể trau chuốt cho phần kết bài được. Một số em học yếu có thể vận dụng kiểu kết bài chung chung, mang tính công thức. Cách Kết bài bằng cách tóm lược dễ làm nhất. Khi chỉ còn vài phút, các em có thể kết bài chung chung, tất nhiên nếu làm như vậy sẽ không được điểm cao, nhưng “có còn hơn không”, các em sẽ gỡ gạc được 0,5 điểm bố cục, vì nếu hai phần trên có làm tốt đến mấy mà không có phần kết bài thì bài làm sẽ bị mất 0,5 điểm. Mặt khác còn gây cụt hứng, mất thiện cảm ở người chấm. – Nếu đề bài cho phân tích nhân vật, phân tích tác phẩm, hoặc phân tích đoạn thơ, thì kết bài các em có thể “khen” (hoặc chê) chung chung, cứ khen nhân vật, khen tác phẩm hay, khen nghệ thuật đặc sắc Hoặc đề bài nghị luận về tư tưởng đạo lí thì khen (hoặc chê) tư tưởng đạo lí đó, liên hệ bản thân Nghị luận về hiện tượng tiêu cực thì chê hiện tượng đó - Ví dụ minh họa Phân tích nhân vật bà cụ Tứ trong truyện Vợ nhặt của Kim Lân. Vợ nhặt là truyện ngắn xuất sắc nhất của Kim Lân, là tác phẩm giàu giá trị hiện thực và nhân đạo; là bài ca về tình người ở những người nghèo khổ, ca ngợi niềm tin bất diệt vào tương lai tươi sáng của con người. Truyện đã xây dựng thành công hình tượng nhân vật bà cụ Tứ, một người mẹ nghèo khổ mà ấm áp tình thương, niềm hi vọng, lạc quan qua cách dựng tình huống truyện và dẫn truyện độc đáo, nhất là ngòi bút miêu tả tâm lí tinh tế, khiến tác phẩm mang chất thơ cảm động và hấp dẫn. V. CÁCH DỰNG ĐOẠN VĂN VÀ LIÊN KẾT ĐOẠN VĂN NGHỊ LUẬN VĂN HỌC VỀ VĂN XUÔI 1. Dựng đoạn a.Về nội dung – Đoạn văn là một ý hoàn chỉnh ở một mức độ nhất định nào đó về lôgic ngữ nghĩa, có thể nắm bắt được một cách tương đối dễ dàng. – Mỗi đoạn văn trong văn bản diễn đạt một ý, các ý có mối liên quan chặt chẽ với nhau trên cơ sở chung là chủ đề của văn bản. – Mỗi đoạn trong văn bản có một vai trò chức năng riêng và được sắp xếp theo một trật tự nhất định: đoạn mở đầu văn bản, các đoạn thân bài của văn bản (các đoạn này triển khai chủ đề của văn bản thành các khía cạch khác nhau), đoạn kết thúc văn bản. – Mỗi đoạn văn bản khi tách ra vẫn có tính độc lập tương đối của nó: nội dung của đoạn tương đối hoàn chỉnh, hình thức của đoạn có một kết cấu nhất định. b. Về hình thức Đoạn văn là phần văn bản: – Bắt đầu từ chữ viết hoa lùi vào đầu dòng. – Kết thúc là một dấu chấm xuống dòng. – Đoạn có một hoặc do nhiều câu liên kết tạo thành. c. Kết cấu của một đoạn văn nghị luận
  7. – Câu mở đoạn: lêu lên luận điểm của cả đoạn, câu mở đoạn cần ngắn gọn rõ ràng. – Câu phát triển đoạn: gồm một số câu liên kết nhau: câu giải thích, câu dẫn chứng, câu phân tích dẫn chứng, câu so sánh, câu bình luận, câu khẳng định, câu phủ định – Câu kết đoạn: là câu nhận xét, đánh giá vấn đề vừa triển khai, tiểu kết cả đoạn. – Câu chủ đề: là câu mang ý chính của toàn đoạn. Vị trí của câu chủ đề tùy thuộc vào kết cấu của đoạn. d. Kết luận Như vậy để viết được một đoạn văn theo cách quy nạp, diễn dịch, móc xích hay song hành học sinh cần xác định được luận điểm, câu chủ đề, vị trí của câu chủ đề trong đoạn văn, tìm đủ luận cứ cần thiết tổ chức lập luận theo một trật tự hợp lí để làm nổi bật luận điểm. Đây là cách hiểu hợp lí, thỏa đáng hơn cả giúp người đọc nhận diện đoạn văn trong văn bản một cách nhanh chóng, thuận lợi đồng thời giúp người viết tạo lập văn bản bằng cách xây dựng từng đoạn văn được rõ ràng, rành mạch. 2. Liên kết đoạn a. Khái quát chung – Một bài văn nghị luận được xem là mạch lạc, chặt chẽ khi giữa các luận điểm, các đoạn văn trong bài văn có mối quan hệ gắn bó về ý nghĩa và liên kết với nhau bằng những phương tiện liên kết nhất định. Do đó, để tạo nên sự liên kết giữa các đoạn trong một bài văn, người viết phải đảm bảo hai yêu cầu cơ bản: + Một là, tạo được quan hệ ý nghĩa giữa các đoạn (quan hệ liệt kê, quan hệ thứ tự, quan hệ song song, quan hệ tương đồng, quan hệ tương phản đối lập, quan hệ tăng tiến, quan hệ nhân – quả, quan hệ cụ thể – khái quát ). + Hai là, lựa chọn và sử dụng các phương tiện liên kết sao cho phù hợp với mối quan hệ ý nghĩa giữa các đoạn. – Thực tế trong trường học hiện nay, nhiều em học sinh chưa nắm chắc kĩ năng dựng đoạn, liên kết đoạn, triển khai bài văn còn lộn xộn, giữa các đoạn chưa có sự lập luận hợp lôgic. Vì thế, qua kinh nghiệm trực tiếp giảng dạy và chấm thi tôi đưa ra một vài cách liên kết đoạn thông thường, để giúp các em có thêm kĩ năng liên kết đoạn trong văn nghị luận. b. Cách liên kết – Có thể dùng từ ngữ hoặc dùng câu để liên kết các đoạn văn. Cách dùng từ ngữ để liên kết: + Từ ngữ liên kết các đoạn văn có quan hệ liệt kê: Thứ nhất – Thứ hai ; Một là – Hai là ; Trước tiên – Tiếp theo – Sau cùng + Từ ngữ liên kết các đoạn văn có quan hệ thứ tự: Trước hết – Một đặc điểm nữa là Ÿ Từ ngữ liên kết các đoạn văn có quan hệ song song: Một mặt – Mặt khác – Ngoài ra – Bên cạnh đó + Từ ngữ liên kết các đoạn văn có quan hệ tương đồng: Tương tự –Cũng thế – Cũng vậy – Cũng giống như trên + Từ ngữ liên kết các đoạn văn có quan hệ tương phản đối lập: Nhưng song, trái lại, ngược lại, thế mà, tuy nhiên, tuy vậy, thế nhưng + Từ ngữ liên kết các đoạn văn có quan hệ tăng tiến: Vả lại, hơn nữa, thậm chí, chưamấy, đi xa hơn nữa
  8. + Từ ngữ liên kết các đoạn văn có quan hệ nhân – quả: Bởi vậy, bởi thế, cho nên, vì vậy, vì thế, chính vì vậy, chính vì thế, do đó, vậy nên, vì lí do trên + Từ ngữ liên kết các đoạn văn có quan hệ cụ thể – khái quát: đối với trường hợp này, đoạn văn trước mang ý nghĩa cụ thể, đoạn văn sau mang ý nghĩa tóm tắt, tổng kết, khái quát. Từ ngữ liên kết được sử dụng ở đoạn văn sau có thể là: Tóm lại, nhìn chung, nói tóm lại, vậy là tổng kết lại, chung quy lại c. Cách dùng câu để liên kết – Câu nối có nhiệm vụ tóm tắt nội dung của đoạn trước và mở ra nội dung của đoạn sau: + Không những A (nội dung đoạn trước) mà còn B (nội dung khái quát của đoạn sau). + Càng A (nội dung đoạn trước) càng B (nội dung khái quát của đoạn sau). + Nếu A (nội dung đoạn trước) thì B (nội dung khái quát của đoạn sau). – Dùng câu hỏi để tự mở ra một ý cho đoạn mới (đoạn văn sau): B. BÀI TẬP Đề 1: Một loạt đạn súng lớn văng vẳng dội đến ầm ĩ trên ngọn cây. Rồi loạt thứ hai Việt ngóc dậy. Rõ ràng không phải tiếng pháo lễnh lãng của giặc. Đó là những tiếng nổ quen thuộc, gom vào một chỗ, lớn nhỏ không đều, chen vào đó là những dây súng nổ vô hồi vô tận. Súng lớn và súng nhỏ quyện vào nhau như tiếng mõ và tiếng trống đình đám dậy trời dậy đất hồi Đồng khởi. Đúng súng của ta rồi! Việt muốn reo lên. Anh Tánh chắc ở đó, đơn vị mình ở đó. Chà, nổ dữ, phải chuẩn bị lựu đạn xung phong thôi! Đó, lại tiếng hụp hùm chắc là một xe bọc thép vừa bị ta bắn cháy. Tiếng súng nghe thân thiết và vui lạ. Những khuôn mặt anh em mình lại hiện ra Cái cằm nhọn hoắt ra của anh Tánh, nụ cười và cái nheo mắt của anh Công mỗi lần anh động viên Việt tiến lên Việt vẫn còn đây, nguyên tại vị trí này, đạn đã lên nòng, ngón cái còn lại vẫn sẵn sàng nổ súng. Các anh chờ Việt một chút. Tiếng máy bay vẫn gầm rú hỗn loạn trên cao, nhưng mặc xác chúng. Kèn xung phong của chúng ta đã nổi lên. Lựu đạn ta đang nổ rộ Việt đã bò đi được một đoạn, cây súng đẩy đi trước, hai cùi tay lôi người theo. Việt cũng không biết rằng mình đang bò đi nữa, chính trận đánh đang gọi Việt đến. Phía đó là sự sống. Tiếng súng đã đem lại sự sống cho đêm vắng lặng. Ở đó có các anh đang chờ Việt, đạn ta đang đổ lên đầu giặc Mĩ những đám lửa dữ dội, và những mũi lê nhọn hoắc đang bắt đầu xung phong ” (Trích Những đứa con trong gia đình, Nguyễn Thi, Ngữ Văn 12, NXB Giáo dục, tập hai, trang 58) Phân tích hình tượng nhân vật Việt trong đoạn trích trên. Từ đó, nhận xét về nghệ thuật xây dựng nhân vật của Nguyễn Thi.
  9. GỢI Ý 2 Phân tích đoạn trích trên. Từ đó, nhận xét về nghệ thuật trần thuật của 5,0 Nguyễn Thi. a. Đảm bảo cấu trúc bài nghị luận. 0,25 Mở bài nêu được vấn đề, Thân bài triển khai được vấn đề, Kết bài khái quát được vấn đề. b. Xác định đúng vấn đề cần nghị luận. 0,5 - Phân tích đoạn trích. - Nhận xét về nghệ thuật trần thuật của Nguyễn Thi. Hướng dẫn chấm: - Học sinh xác định đúng vấn đề cần nghị luận: 0,5 điểm. - Học sinh xác định chưa đầy đủ vấn đề nghị luận: 0,25 điểm. c. Triển khai vấn đề nghị luận thành các luận điểm. Học sinh có thể triển khai theo nhiều cách, nhưng cần vận dụng tốt các thao tác lập luận, kết hợp chặt chẽ giữa lí lẽ và dẫn chứng; đảm bảo các yêu cầu sau: * Giới thiệu khái quát về tác giả (0,25 điểm), tác phẩm và đoạn trích (0,25 điểm). 0,5 * * Phân tích đoạn trích 2,5 - Khái quát tình huống truyện và nhân vật: Việt là một trong hai nhân vật chính quan trọng của truyện kết tinh những phẩm chất tốt đẹp của thế hệ trẻ Nam Bộ trong thời kì kháng chiến chống Mĩ: Việt là một chiến sĩ trẻ, chưa qua tuổi mười tám, vẫn còn giữ những nét hồn nhiên của một chàng trai mới lớn: hiếu động, ngây thơ, trẻ con; có tình thương yêu gia đình sâu đậm; cũng là một chiến sĩ dũng cảm, tính cách anh hùng. Đoạn trích nói về tình huống nhân vật Việt bị thương, phải nằm lại chiến trường một mình. - Tái hiện khung cảnh, không khí trận chiến ác liệt: + Khung cảnh chiến trận diễn ra vô cùng ác liệt + Tình thế nguy hiểm, cận kề cái chết “Một loạt đạn súng lớn ngọn cây”, “những dây súng nổ vô hồi vô tận”, “Súng lớn, súng nhỏ quyện vào nhau”, “ Máy bay gầm rú hỗn loạn, lựu đạn nở rộ ” + Niềm tin, hi vọng lớn vào tinh thần quyết liệt nổi lên tấn công của quân dân ta =>Trong trận chiến đấu ác liệt, Việt bị thương nặng nằm lại chiến trường. Lúc ngất (mê) lúc tỉnh nhưng qua dòng tâm trạng của Việt đã cho thấy được khung
  10. cảnh chiến tranh kháng chiến chống Mĩ ác liệt, sự giành giật giữa sự sống và cái chết, giữa được và mất. - Tinh thần chiến đấu dũng cảm, gan dạ của nhân vật Việt: + Việt nhớ đồng đội và quyết tâm tìm về đơn vị + Phân biệt được tiếng súng của đồng đội và kẻ thù. Tiếng súng tiếp thêm sức mạnh cho Việt. + Vẻ đẹp của người chiến sĩ trẻ anh hùng trong tư thế hiên ngang, sẵn sàng chiến đấu. + Việt hướng tới sự sống, luôn lạc quan, hướng về đồng đội. Nhận xét: Qua nhân vật Việt, tác giả làm sống dậy tinh thần quật khởi, tình yêu quê hương, đất nước, ý chí nghị lực phi thường của đồng bào miền Nam trong những ngày đánh Mỹ. Hướng dẫn chấm: - Học sinh cảm nhận về hình tượng nhân vật Việt đầy đủ, sâu sắc: 2,5 điểm. - Học sinh cảm nhận chưa đầy đủ hoặc chưa sâu sắc: 1,75 điểm - 2,25 điểm. - Cảm nhận chung chung, chưa rõ các biểu hiện : 0,75 điểm - 1,25 điểm. - Cảm nhận sơ lược, không rõ các biểu hiện: 0,25 điểm - 0,5 điểm. * *Nhận xét về nghệ thuật trần thuật của Nguyễn Thi: 0,5 - Nghệ thuật trần thuật độc đáo từ ngôi thứ ba, tác giả để cho nhân vật tự kể, bộc lộ về cuộc đời của mình và các nhân vật khác theo dòng hồi tưởng qua ngôn ngữ nửa trực tiếp. - Chi tiết được chọn lọc vừa cụ thể vừa giàu ý nghĩa, gây ấn tượng mạnh; Giọng văn trữ tình – tự sự, chân thật, tự nhiên, đậm màu sắc sử thi. - Sử dụng các câu văn ngắn, kết hợp dấu chấm câu giữa dòng thể hiện sự chắp nối ghi nhớ trong hồi ức. - Ngôn ngữ kể chuyện mang nét riêng, đậm màu sắc Nam Bộ. Hướng dẫn chấm: - Học sinh đánh giá được 2-3 ý: 0,5 điểm. - Học sinh đánh giá được 1 ý: 0,25 điểm. d. Chính tả, ngữ pháp 0,25 Đảm bảo chuẩn chính tả, ngữ pháp tiếng Việt. Hướng dẫn chấm: - Không cho điểm nếu bài làm mắc quá nhiều lỗi chính tả, ngữ pháp.
  11. e. Sáng tạo 0,5 Thể hiện suy nghĩ sâu sắc về vấn đề nghị luận; có cách diễn đạt mới mẻ. Hướng dẫn chấm: Học sinh biết vận dụng lí luận văn học trong quá trình phân tích, đánh giá; biết so sánh với các tác phẩm khác để làm nổi bật nét đặc sắc trong thể loại kí của Nguyễn Tuân; biết liên hệ vấn đề nghị luận với thực tiễn đời sống; văn viết giàu hình ảnh, cảm xúc. - Đáp ứng được 2 yêu cầu trở lên: 0,5 điểm. - Đáp ứng được 1 yêu cầu: 0,25 điểm. Đề 2: “Cúng mẹ và cơm nước xong, mấy chị em, chú cháu thu xếp đồ đạc dời nhà. Chị Chiến ra đằng giữa sân, kéo cái khăn trên cổ xuống, cũng xắn tay áo để lộ hai bắp tay tròn vo sạm đỏ màu cháy nắng, rồi dùng cả thân người to và chắc nịch của mình nhấc bổng một đầu bàn thờ má lên. Việt ghé vào một đầu. Nào, đưa má sang ở tạm bên nhà chú, chúng con đi đánh giặc trả thù cho ba má, đến chừng nước nhà độc lập con lại đưa má về. Việt khiêng trước. Chị Chiến khiêng bịch bịch phía sau. Nghe tiếng chân chị, Việt thấy thương chị lạ. Lần đầu tiên Việt mới thấy lòng mình rõ như thế. Còn mối thù thằng Mĩ thì có thể sờ thấy được, vì nó đang đè nặng ở trên vai. Hai chị em khiêng má băng tắt qua dãy đất cày trước cửa, men theo chân vườn thoảng mùi hoa cam, con đường hồi trước má vẫn đi để lội hết đồng này sang bưng khác.” (Trích “Những đứa con trong gia đình”, Nguyễn Thi, SGK Ngữ văn 12, tập 2, trang 63). Cảm nhận của anh/chị về nhân vật Việt trong đoạn trích trên. Từ đó, bình luận về khuynh hướng sử thi trong tác phẩm. GỢI Ý a. Đảm bảo cấu trúc bài nghị luận 0.25 Mở bài nêu được vấn đề, Thân bài triển khai được vấn đề, Kết bài khái quát được vấn đề. b. Xác định đúng vấn đề nghị luận 0.5 - Vẻ đẹp của nhân vật Việt trong đoạn trích. - Khuynh hướng sử thi trong tác phẩm. Hướng dẫn chấm: - Học sinh xác định đúng vấn đề cần nghị luận: 0,5 điểm. - Học sinh xác định chưa đầy đủ vấn đề nghị luận: 0,25 điểm. c. Triển khai vấn đề nghị luận thành các luận điểm Thí sinh có thể triển khai theo nhiều cách, nhưng cần vận dụng tốt các thao tác lập luận, kết hợp chặt chẽ giữa lí lẽ và dẫn chứng; đảm bảo các yêu cầu cơ bản sau:
  12. * Giới thiệu ngắn gọn về tác giả, tác phẩm, đoạn trích. 0.5đ Hướng dẫn chấm: - Giới thiệu khái quát về tác giả: 0,25 điểm - Giới thiệu tác phẩm, đoạn trích và vấn đề nghị luận: 0,25 điểm * Cảm nhận về nhân vật Việt trong đoạn trích: 2.5đ - Học sinh có thể cảm nhận theo nhiều cách nhưng cần đáp ứng các yêu cầu sau: + Có quyết tâm đánh giặc trả thù cho ba má và có niềm tin “chúng con đi đánh giặc trả thù cho ba má, đến chừng nước nhà độc lập con lại đưa má về” + Có lòng căm thù giặc sâu sắc: từ nhỏ đã nung nấu lòng căm thù, lúc này khi khiêng bàn thờ má. Việt càng cảm nhận rõ: “mối thù thằng giặc Mỹ thì có thể rờ thấy được, vì nó đang đè nặng trên vai” + Có tình yêu thương gia đình sâu đậm: Sắp xa chị Chiến, Việt thấy thương chị nhiều hơn; Việt thấy chị giống y như má, nhất là khi nghe tiếng chân chị “bịch bịch phía sau”. Lúc này Việt thấy rõ lòng mình và ý thức được mục đích đi bộ đội của mình. - Nghệ thuật: Nhà văn đã chọn lọc chi tiết tiêu biểu, giọng văn tự nhiên giàu cảm xúc, ngôn ngữ đậm chất Nam Bộ. - Nhận xét, đánh giá: Đoạn văn đã khắc hoạ được vẻ đẹp trong tâm hồn, tình cảm của Việt – con người giàu lòng yêu quê hương đất nước. Chính sự hoà quyện giữa tình cảm gia đình và đất nước đã tạo nên sức mạnh tinh thần to lớn cho con người Việt Nam. Hướng dẫn chấm: - Học sinh phân tích đầy đủ, sâu sắc: 2,0 điểm. - Học sinh phân tích chưa đầy đủ hoặc chưa sâu sắc: 1,5 điểm – 1,75 điểm. - Học sinh phân tích chung chung, chưa rõ các biểu hiện: 1,0 điểm - Học sinh phân tích sơ lược, không rõ các biểu hiện: 0,5 điểm - 0,75 điểm. * Khuynh hướng sử thi trong tác phẩm. 0,5 - Khuynh hướng sử thi (hay tính sử thi, cảm hứng sử thi) là một trong những đặc điểm cơ bản của văn học cách mạng Việt Nam 1945 - 1975, thể hiện trên các phương diện chủ yếu như đề tài chủ đề, hệ thống nhân vật, giọng điệu, lời văn Đây cũng là đặc điểm nổi bật của truyện ngắn Những đứa con trong gia đình. - Tính sử thi trong tác phẩm “Những đứa con trong gia đình” trước hết được thể hiện ở đề tài và chủ đề, của tác phẩm: viết về tinh thần yêu nước, chống giặc ngoại xâm của nhân dân miền Nam trong những năm kháng chiến chống Mĩ ác liệt. - Tính sử thi còn được thể hiện qua các nhân vật trong tác phẩm. Họ là những người mang phẩm chất anh hùng, thể hiện lý tưởng chung của cả cộng đồng, dân tộc: Những nhân vật anh hùng: ông nội, ba má, chú thím Năm, chị em Chiến, Việt và các đồng đội của Việt. - Lời văn trang trọng và hào hùng, hình ảnh kì vĩ, giọng điệu ngợi ca. - Cuốn sổ của gia đình Việt là lịch sử gia đình mà qua đó thấy lịch sử của một đất nước, một dân tộc trong cuộc chiến chống Mĩ. Hướng dẫn chấm: - Học sinh trình bày được 1/2 ý: 0,5 điểm.
  13. - Học sinh trình bày được 1 ý: 0,25 điểm. d. Chính tả, ngữ pháp 0.25 Đảm bảo chuẩn chính tả, ngữ pháp tiếng Việt. Hướng dẫn chấm: Không cho điểm nếu bài làm mắc quá nhiều lỗi chính tả, ngữ pháp. e. Sáng tạo 0.5 Thể hiện suy nghĩ sâu sắc về vấn đề nghị luận; có cách diễn đạt mới mẻ. Hướng dẫn chấm: Học sinh biết vận dụng lí luận văn học trong quá trình phân tích, đánh giá; biết so sánh với các tác phẩm khác để làm nổi bật nét đặc sắc của truyện ngắn Nguyễn Thi; biết liên hệ vấn đề nghị luận với thực tiễn đời sống; văn viết giàu hình ảnh, cảm xúc. - Đáp ứng được 2 yêu cầu trở lên: 0,5 điểm. - Đáp ứng được 1 yêu cầu: 0,25 điểm. Đề 3: Phải nhiều thế kỉ qua đi, người tình mong đợi mới đến đánh thức người gái đẹp nằm ngủ mơ màng giữa cánh đồng Châu Hóa đầy hoa dại. Nhưng ngay từ đầu vừa ra khỏi vùng núi, sông Hương đã chuyển dòng một cách liên tục, vòng giữa khúc quanh đột ngột, uốn mình theo những đường cong thật mềm, như một cuộc tìm kiếm có ý thức để đi tới nơi gặp thành phố tương lai của nó. Từ ngã ba Tuần, sông Hương theo hướng nam bắc qua điện Hòn Chén; vấp Ngọc Trản, nó chuyển hướng sang tây bắc, vòng qua thềm đất bãi Nguyệt Biều, Lương Quán rồi đột ngột vẽ một hình cung thật tròn về phía đông bắc, ôm lấy chân đồi Thiên Mụ, xuôi dần về Huế. Từ Tuần về đây, sông Hương vẫn đi trong dư vang của Trường Sơn, vượt qua một lòng vực sâu dưới chân núi Ngọc Trản để sắc nước trở nên xanh thẳm, và từ đó nó trôi đi giữa hai dãy đồi sừng sững như thành quách, với những điểm cao đột ngột như Vọng Cảnh, Tam Thai, Lựu Bảo mà từ đó, người ta luôn luôn nhìn thấy dòng sông mềm như tấm lụa, với những chiếc thuyền xuôi ngược chỉ bé vừa bằng con thoi. Những ngọn đồi này tạo nên những mảng phản quang nhiều màu sắc trên nền trời tây nam thành phố, “sớm xanh, trưa vàng, chiểu tím” như người Huế thường miêu tả. Giữa đám quần sơn lô xô ấy, là giấc ngủ nghìn năm của những vua chúa được phong kín trong lòng những rừng thông u tịch và niềm kiêu hãnh âm u của những lăng tẩm đồ sộ tỏa lan khắp cả một vùng thượng lưu “Bốn bề núi phủ mây phong - Mảnh trăng thiên cổ bóng tùng Vạn Niên”. Đó là vẻ đẹp trầm mặc nhất của sông Hương, như triết lí, như cổ thi, kéo dài mãi đến lúc mặt nước phẳng lặng của nó gặp tiếng chuông chùa Thiên Mụ ngân nga tận bờ bên kia, giữa những xóm làng trung du bát ngát tiếng gà (Trích Ai đã đặt tên cho dòng sông?, Hoàng Phủ Ngọc Tường, Ngữ văn 12, Tập một, NXB Giáo dục Việt Nam, 2020, tr.198-199). Phân tích vẻ đẹp hình tượng sông Hương trong đoạn trích trên. Từ đó, nhận xét về chất trữ tình của bút kí Hoàng Phủ Ngọc Tường.