Ôn tập TN THPT môn Ngữ văn - Chuyên đề: Vận dụng lí luận vào câu nghị luận văn học
Bạn đang xem tài liệu "Ôn tập TN THPT môn Ngữ văn - Chuyên đề: Vận dụng lí luận vào câu nghị luận văn học", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên.
File đính kèm:
on_tap_tn_thpt_mon_ngu_van_chuyen_de_van_dung_li_luan_vao_ca.docx
Nội dung tài liệu: Ôn tập TN THPT môn Ngữ văn - Chuyên đề: Vận dụng lí luận vào câu nghị luận văn học
- SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO CHUYÊN ĐỀ ÔN TẬP BẮC NINH KỲ THI TỐT NGHIỆP THPT ¯¯¯¯¯¯¯¯¯ NĂM 2023 Môn: Ngữ văn ¯¯¯¯¯¯¯¯ CHUYÊN ĐỀ 11: VẬN DỤNG LÍ LUẬN VÀO CÂU NGHỊ LUẬN VĂN HỌC Người biên soạn: Nguyễn Thị Vân Đơn vị công tác:THPT Hàn Thuyên I. LÝ THUYẾT 1. Lý luận văn học là gì? Lý luận văn học, hiểu một cách đơn giản là bộ môn nghiên cứu văn học ở bình diện khái quát, nhằm tìm ra những quy luật chung nhất về văn học. Kiến thức lý luận văn học sẽ giúp chúng ta trả lời các câu hỏi khái quát, ví dụ như: Văn học bắt nguồn từ đâu? Một tác phẩm văn học do những yếu tố nào tạo thành? Văn học được sáng tác và được tiếp nhận như thế nào? Văn học sinh ra để làm gì? Các nhà lí luận sẽ nghiên cứu trên các hiện tượng văn học để khái quát lên những thuật ngữ, những luận điểm về các quy luật của văn học. Nhờ các thành quả nghiên cứu đó mà những người quan tâm đến văn học có thể lí giải được sâu hơn bản chất của các hiện tượng văn học như: nhà văn, tác phẩm, trào lưu văn học Các kiến thức lí luận văn học đang phát triển từng ngày từng giờ với rất nhiều các khuynh hướng, các luồng tư tưởng, các quan niệm khác nhau, có khi thống nhất nhưng cũng có khi phủ nhận lẫn nhau. Những nghiên cứu về lí luận văn học vẫn đang được thực hiện hàng ngày trong cuộc sống của chúng ta, trao cho ta những góc nhìn mới mẻ, sâu sắc hơn về văn học. Có nhiều người cho rằng lí luận văn học rất khó hiểu, thực ra các kiến thức lí luận văn học vô cùng gần gũi với chúng ta. Văn học là gì? Văn học vì ai mà tồn tại? – những câu hỏi ấy nảy ra trong ta ngay từ khi gặp gỡ văn học, và mỗi chúng ta ắt hẳn đều có cho riêng mình những ý niệm để trả lời câu hỏi ấy. Học lí luận văn học là cách để ta có thể trả lời những câu hỏi dạng như vậy một cách có hệ thống và khoa học hơn. Ở mức độ trường phổ thông, trước nay chúng ta vẫn lĩnh hội tri thức lí luận văn học ở mức độ cơ bản. Những tri thức này sẽ là nền tảng để học sinh tiếp tục nghiên cứu sâu hơn ở các bậc học cao hơn. 2.Học lý luận văn học như thế nào? Cũng như mọi bộ môn nghiên cứu lý thuyết khác, chúng ta tiếp nhận tri thức lí luận văn học trên nhiều cấp độ. Từ thấp đến cao, các cấp độ đó thể hiện như sau: Biết Chúng ta biết được các thuật ngữ và các luận điểm lí luận văn học. Chúng ta có thể hiểu và diễn đạt chính xác các thuật ngữ và luận điểm lí Hiểu luận văn học bằng lời văn của mình. Chúng ta có thể vận dụng các kiến thức lí luận văn học để lí giải các hiện Vận dụng tượng văn học, các nhận định về lí luận văn học. 1
- Chúng ta có thể phân tích các biểu hiện của vấn đề lí luận văn học trong Phân tích một hiện tượng văn học cụ thể (tác phẩm, phong cách tác giả, trào lưu văn học, thời kì văn học ) Chúng ta có thể tìm ra mối liên hệ giữa các vấn đề lí luận văn học khác Tổng hợp nhau, huy động kiến thức của nhiều chủ đề khác nhau để giải quyết vấn đề có tính chất tổng hợp. Chúng ta đánh giá được mức độ chính xác, toàn vẹn của một nhận định lí Đánh giá luận văn học và có thể bổ sung, phản biện một cách hợp lý. Ở mức độ một bài thi học sinh giỏi, bài văn nghị luận dạng vận dụng kiến thức lí luận văn học đòi hỏi học sinh phải nắm kiến thức đến mức độ cao nhất trong thang nêu trên, là mức độ đánh giá. Như vậy, việc lĩnh hội tri thức lí luận văn học cũng cần phải được rèn luyện từng bước để đạt được cấp độ cao nhất. Cấp độ lĩnh Cách thức hình thành hội tri thức - Đọc giáo trình, tài liệu, xác định các đơn vị kiến thức quan trọng (gạch chân, tô sáng các ý). - Ghi nhớ những đơn vị kiến thức cơ bản nhất: những thuật ngữ quan trọng, những luận điểm quan trọng. Sử dụng các kĩ thuật ghi nhớ như Biết sơ đồ hóa, khắc sâu từ khóa. Chẳng hạn: phải nắm các khái niệm như nhà văn, tác phẩm văn học, giá trị nhận thức, giá trị giáo dục, giá trị thẩm mĩ, phong cách văn học, trào lưu văn học, tiếp nhận văn học, thể loại thơ, tự sự, kịch Tập diễn đạt lại nội dung thuật ngữ, nội dung các luận điểm lí luận văn Hiểu học bằng lời văn của chính mình. Tập lí giải một số hiện tượng văn học thường gặp. Tập lí giải một số luận điểm lí luận văn học. Thường xuyên đặt câu hỏi “Vì sao?” và các câu hỏi giả định. Chẳng hạn như các câu hỏi: + Vì sao văn học phải phản ánh hiện thực cuộc sống? + Vì sao cùng viết về “Tương tư” nhưng Nguyễn Bính trong bài thơ “Tương tư” thì chọn thể thơ lục bát, còn Xuân Diệu trong “Tương tư chiều” lại chọn thể thơ tự do? Vận dụng + Văn học có thể tồn tại không nếu không viết về con người? + Ở văn học trung đại có hiện tượng văn-sử-triết bất phân, nhưng đến văn học hiện đại thì người ta chia ba lĩnh vực ấy ra. Vì sao có thể tách văn ra khỏi sử và triết? + Tại sao trong đoạn trích “Kiều ở lầu Ngưng Bích”, Nguyễn Du lại để Kiều nhớ Kim Trọng trước, cha mẹ sau? Quy luật văn học nào dẫn đến điều đó? + Tại sao nói truyện ngắn “Hai đứa trẻ” là bài thơ trữ tình đượm buồn? 2
- Phân tích các biểu hiện của các vấn đề văn học trong những hiện tượng văn học cụ thể như tác phẩm, phong cách tác giả, trào lưu văn học, thời kì văn học Ví dụ như: Phân tích - Phân tích (chỉ ra biểu hiện) phong cách Nam Cao qua một số tác phẩm truyện ngắn trước CMT8. - Phân tích (chỉ ra biểu hiện) giá trị nhân đạo trong “Truyện Kiều”. - Phân tích (chỉ ra biểu hiện) nét riêng của nhà thơ Xuân Diệu khi viết về đề tài tình yêu Giải quyết các vấn đề có tính chất tổng hợp. Ví dụ như: - Nói về thơ ca, nhà thơ Tố Hữu nói: “Thơ ca là tiếng nói hồn nhiên nhất của tâm hồn”, nhưng Nguyễn Công Trứ lại cho rằng: “Trót nợ cùng thơ phải chuốt lời”. Phải chăng hai câu nói trên là mâu thuẫn, Tổng hợp hãy thử lí giải. - Có người cho rằng: Văn chương phải giúp chúng ta hiểu thêm về đời sống và hiểu chính mình. Từ các phương diện đặc trưng văn học, chức năng văn học, quá trình sáng tác, quá trình tiếp nhận, hãy lý giải ý kiến trên. Liên tục đặt các câu hỏi tra vấn, phản biện: + Có phải lúc nào cũng như vậy hay không? Đánh giá + Nói như vậy đã thực sự chính xác hay chưa? + Có ngoại lệ hay không? + Vấn đề đã toàn vẹn hay chưa, có bổ sung gì không? Trong định hướng giải quyết các đề thi, các bước luyện tập như sau: Bốn bước nêu trên sẽ được lặp đi lặp lại và mỗi lần làm lại thì ở mức độ cao hơn. Đó là cách tốt nhất để củng cố và tiếp tục phát triển năng lực cho đến khi thuần thục ở mức cao nhất. 3.Kiến thức lý luận văn học nằm ở đâu trong bài làm nghị luận văn học? Có thể tạm chia các đề NLVH thường gặp hiện nay thành ba cấp độ: Yêu cầu đề Đề minh họa - Phân tích nhân vật bà cụ Tứ trong tác phẩm “Vợ Phân tích các yếu nhặt” của nhà văn Kim Lân. Cấp độ 1 tố cơ bản trong một - Cảm nhận về nhân vật Người đàn bà hàng chài tác phẩm văn học. trong “Chiếc thuyền ngoài xa” của nhà văn Nguyễn Minh Châu. - Phân tích giá trị nhân đạo trong “Vợ nhặt” của Kim Phân tích các yếu Lân. tố trong tác phẩm - Phân tích chất thơ trong truyện ngắn “Hai đứa trẻ” Cấp độ 2 văn học để làm rõ của nhà văn Thạch Lam. một yêu cầu nào - Phân tích tích tác phẩm “Người lái đò Sông Đà” đó. để cho thấy những chuyển biến trong sáng tác của nhà văn Nguyễn Tuân ở giai đoạn sau CMT8 1945. 3
- - Bình luận về ý kiến của nhà thơ Tố Hữu: “Thơ chỉ Giải quyết một bật ra trong tim ta khi cuộc sống đã tràn đầy”. Cấp độ 3 nhận định lí luận - Tác phẩm nghệ thuật chân chính là sự tôn vinh con văn học. người bằng cách hình thức nghệ thuật độc đáo. Bày tỏ suy nghĩ về ý kiến trên. Ở cả ba cấp độ đề trên, ta đều có thể vận dụng kiến thức lí luận văn học. 3.1. Ở cấp độ 1, kiến thức lí luận văn học sử dụng chủ yếu ở phần tổng kết để so sánh, đối chiếu, nâng cao vấn đề. Ví dụ: Khi phân tích nhân vật bà cụ Tứ (trong truyện ngắn Vợ nhặt), ta có thể so sánh đối chiếu với hình tượng nhân vật người nông dân trước CMT8 để thấy sự kế thừa và phát triển của nhà văn Kim Lân trong truyền thống về đề tài người nông dân. Bằng các kiến thức lí luận văn học về trào lưu văn học, về quá trình phản ánh hiện thực và sự sáng tạo của người nghệ sĩ, ta có thể lí giải phần so sánh, đối chiếu, qua đó làm cho bài viết sâu sắc hơn. 3.2.Ở cấp độ 2, kiến thức lí luận văn học thể hiện ở ngay trong những thuật ngữ đề yêu cầu ta làm rõ. “Giá trị nhân đạo” , “chất thơ”, “phong cách sáng tác” đều là những thuật ngữ lí luận văn học. Để giải quyết được các đề ở trên, ta phải nắm được khái niệm của các thuật ngữ, các biểu hiện của chúng và biết cách phân tích các biểu hiện ấy trong tác phẩm văn học. 3.3.Ở cấp độ 3, kiến thức lí luận văn học sẽ được vận dụng trong toàn bài viết. Đây là dạng đề quen thuộc nhất ở các kì thi học sinh giỏi. Từ phần này trở về sau, bài viết sẽ chỉ đề cập đến việc vận dụng kiến thức lí luận văn học trong các đề ở cấp độ 3 này. Bởi vì nếu ta thành thục các kĩ năng cần có để giải quyết các dạng đề ở cấp độ này, ta sẽ dễ dàng vận dụng vào hai cấp độ trước. 4.Dàn ý của dạng bài giải quyết một vấn đề lí luận văn học Dàn ý chung phần thân bài như sau: Thao tác Nội dung Mức độ tư duy - Giải thích các thuật ngữ, các từ ngữ, hình ảnh khó Biết hiểu trong nhận định. 1. Giải thích Chốt vấn đề nghị luận: Như vậy, vấn đề cần bàn Hiểu ở đây là gì? Sử dụng các kiến thức lí luận văn học để lí giải vấn Vận dụng 2. Bàn luận đề nghị luận. Trả lời cho câu hỏi “vì sao?” Tổng hợp 3. Chứng Chọn chi tiết trong tác phẩm để làm rõ các biểu Phân tích minh hiện của vấn đề nghị luận. - Đánh giá tính đúng đắn của vấn đề nghị luận. Đánh giá 4. Đánh giá - Bổ sung, phản biện lại vấn đề (Nếu có) Rút ra bài học cho nhà văn trong quá trình sáng tác 5. Liên hệ Vận dụng và bạn đọc trong quá trình tiếp nhận. Khi làm bài, cần vận dụng linh hoạt các bước trên nhưng nhất thiết phải có đầy đủ các thao tác này để bài viết không bị mất điểm. 4
- II. VẬN DỤNG 1.Phần mở bài 1.1 Mở bài cảm nhận nhân vật trữ tình trong thơ: Đề bài: Cảm nhận bài thơ Sóng của Xuân Quỳnh Ngay từ mở bài mọi người đã có thể vận dụng lí luận được rồi. Mọi người đưa ra những vấn đề về nền văn học nước nhà, hay hiện thực sáng tạo, tình cảm nhà văn đều được. Ví dụ: "Nhà thơ xứ Daghestan - Raxun Gamzatov đã từng viết với lòng biết ơn "Thơ ca nếu không có người tôi đã mồ côi". Thơ ca đã ra đời và song hành với nhân loại, như một phương tiện đắc lực và đầy xúc cảm, giúp con người bày tỏ nỗi niềm và đi sâu khám phá thế giới nội tâm sâu kín, bí hiểm. Tôi chợt nhớ thi sĩ Xuân Quỳnh và bồi hồi hình dung nhà thơ ấy sẽ cô đơn biết bao nếu không thể trao gửi tâm tình vào nghệ thuật. Bài thơ "Sóng" là tất cả nỗi niềm của nội tâm sâu kín ấy. Là sóng biển, sóng lòng mà người con gái miền La Khê đã tha thiết gửi trao trong từng dòng, từng chữ 1.2 Mở bài cảm nhận nhân vật trong văn xuôi: Ví dụ: Cảm nhận hình tượng nhân vật Mị trong truyện ngắn Vợ chồng A Phủ của nhà văn Tô Hoài chúng ta sẽ đi từ kiến thức lí luận về vai trò nhà văn Nhà văn tồn tại ở trên đời trước hết để làm công việc giống như kẻ nâng giấc cho những con người bị cùng đường, tuyệt lộ, bị cái ác hoặc số phận đen đủi dồn đến chân tường. Những con người cả tâm hồn và thể xác bị hắt hủi và đọa đày đến ê chề, hoàn toàn mất hết lòng tin vào con người và cuộc đời. Nhà văn tồn tại ở trên đời để bênh vực cho những con người không có ai để bênh vực.” (Nguyễn Minh Châu). Với hình tượng nhân vật Mị trong tác phẩm “Vợ chồng A Phủ”, nhà văn Tô Hoài đã thực hiện trọn vẹn sứ mệnh ấy khi mang đến cho người đọc một hình tượng nghệ thuật với biết bao vẻ đẹp – nhất là sức sống tiềm tàng mãnh liệt mà không thế lực nào có thể dập tắt được. chúng ta sẽ đi từ kiến thức lí luận về vai trò nhân vật Nghệ thuật đồng nghĩa với sáng tạo. Nghệ sĩ là kẻ làm công việc “khơi những nguồn chưa ai khơi và sáng tạo những gì chưa có” (Nam Cao). Viết văn là một quá trình khai phá những vỉa quặng của cuộc đời nhưng mỗi thứ kim loại quý hiếm nhà văn tìm thấy lại lấp lánh một sắc màu riêng biệt. Có phải đó là sắc màu của những hình tượng nhân vật tiêu biểu được nhà văn nhặt nhạnh ở cuộc đời, nhào nặn trong tư tưởng và đưa vào tác phẩm dưới lớp áp chủ quan độc đáo. Phải chăng chính vì thế mà các nhà thơ, nhà văn luôn tạo ra những nét riêng cho mình bằng việc xây dựng lên những hình tượng nhân vật độc đáo chở nặng tâm tư của tác giả. Điều đó được thể hiện rõ qua nhân vật Mị trong tác phẩm “Vợ chồng A Phủ ” của nhà văn Tô Hoài . Sự tinh tế, độc đáo trong nghệ thuật xây dựng hình tượng nhân vật của nhà văn đã góp phần chắp cánh cho tác phẩm vút bay trên bầu trời văn đàn dân tộc 2.Thân bài Khi vào đến thân bài thì trước khi phân tích tác phẩm theo yêu cầu của đề bài thì mọi người cũng có thể sử dụng lí luận để tránh đi việc nêu ra hoàn cảnh ra đời một cách khô cứng. 2.1. Sử dụng kiến thức lí luận khi giới thiệu chung về tác phẩm a. Đối với phần khái quát chung về tác giả, tác phẩm Giới thiệu tác giả: Khi viết thì có thể sử dụng kiến thức về quan niệm nghệ thuật của các tác giả để bài viết có chiều sâu và phong phú hơn. 5
- Ví dụ: Nguyễn Tuân từng muốn mỗi ngày đều có "cái say của rượu tân hôn", kì vọng mỗi trang đời là một trang nghệ thuật. Luôn luôn đổi mới cảm giác, nhận thức cũng như phương châm cảm thụ cái đẹp, ông coi đời là những “trang hoa” luôn mở dưới ánh sáng nghệ thuật mới. Và chuyến đi Tây Bắc của nhà văn sau Cách mạng là một "trang hoa" như thế. Để từ đây vẻ đẹp thiên nhiên và con người được mở ra " dưới ánh sáng nghệ thuật" của "Người lái đò Sông Đà" Giới thiệu tác phẩm: Hoàn cảnh sáng tác tác phẩm cảm hứng viết "Vợ chồng A Phủ" Ví dụ: Mỗi tác phẩm nghệ thuật phải thực sự là "tiếng sáo thổi lòng thời đại, thành giao liên dẫn dắt đưa đường". Dường như ý thức rõ về điều này, nhà văn Tô Hoài trong những ngày tháng sống ở Tây Bắc đã viết nên "Vợ chồng A Phủ". Áng văn là "tiếng sáo", là "giao liên" dẫn ta tới hiện thực cuộc sống lặng im Tây Bắc và cho chúng ta thấy những khát khao đẹp đẽ về tự do và hạnh phúc của con người. b.Phần phân tích, cảm nhận vấn đề Đối với đoạn thơ Trong thân bài thì chú ý các đoạn phân tích câu thơ, câu văn đều dùng lí luận văn học được. Ví dụ: Khi phân tích đoạn thơ của Việt Bắc "Những đường Việt Bắc của ta ". Khi phân tích nhạc tính xong thì viết thêm "Đọc những dòng thơ ấy tôi thấy bồi hồi xao xuyến và nhớ lại sinh thời Huy Cận ngợi ca: "Yêu thơ thơ kể lại hồn ông cha Đời bao tâm sự thiết tha Nằm trong tiếng nói lòng ta thuở nào" Đối với phần phân tích nhân vật : áp dụng kiến thức lí luận về hiện thực và văn học Đề bài: Phân tích người đàn bà hàng chài trong tác phẩm Chiếc thuyền ngoài xa của Nguyễn Minh Châu “Cuộc sống tuyệt vời biết bao, trong thực tế và trên trang sách. Nhưng cuộc sống cũng bi thảm biết bao. Cái đẹp còn trộn lẫn niềm sầu muộn. Cái nên thơ còn lóng lánh giọt nước mắt ở đời “ (Nguyễn Văn Thạc). Qua đôi mắt nghệ sĩ Phùng, người đàn bà thô kệch, mệt mỏi bước ra từ chiếc thuyền lưới vó đẹp như mơ . Xuyên suốt tác phẩm chị không được gọi tên, chỉ được gọi là mụ, chị ta, người đàn bà. Tuy vô danh nhưng người đàn bà ấy để lại nhiều bài học cuộc đời đáng quý. “Người đàn bà chạc 40 tuổi, một thân hình quen thuộc của người đàn bà vùng biển, cao lớn với những đường nét thô kệch. Mụ rỗ mặt, khuôn mặt mệt mỏi sau một đêm thức trắng kéo lưới, tái ngắt, dường như đang buồn ngủ” “tấm áo bạc phệch có miếng vá, nửa thân dưới ướt sũng”. Khắc họa diện mạo của nhân vật mà NMC đã gợi ra số phận con người. Sự thua thiệt về nhan sắc như dự báo một cuộc đời không bình lặng. Gánh nặng của công việc, lam lũ vì nắng mưa gió bão, quay quắt vì cái nghèo tất cả đã hiện lên trên khuôn mặt, dáng người, chị ngày một tàn tạ hơn.(liên tưởng cảnh biển động để hiểu được nỗi mệt mỏi) Nỗi vất vả, cơ cực như đã lấy đi hết sinh lực của người đàn bà. Đối với phân tích đoạn văn Đề bài : Phân tích đọan văn sau “ Bữa cơm ngày đói .tâm trí mọi người ” 6
- L. Tônxtôi khẳng định: "Một tác phẩm nghệ thuật là kết quả của tình yêu. Tình yêu con người, ước mơ cháy bỏng vì một xã hội công bằng, bình đẳng bác ái luôn luôn thôi thúc các nhà văn sống và viết, vắt kiệt cạn những dòng suy nghĩ, hiến dâng bầu máu nóng của mình cho nhân loại”. Bằng tình yêu thương của một nhà văn chân chính, niềm xót thương, đồng cảm của nhà văn một lần nữa khiến người đọc không khỏi ngậm ngùi qua bữa cơm thảm thê ngày đói. Dù cố quên đi thì ta cũng không thể nào quên được hình ảnh: “giữa cái mẹt rách có độc một lùm rau chuối thái rối, và một đĩa muối ăn với niêu cháo lõng bõng nước, mỗi người hai lưng đã hết nhẵn”. Rồi cái cảnh bà cụ Tứ “đon đả” múc cho mỗi người một bát “chè khoán” chát xít không nuốt nổi, nghẹn bứ trong cổ. Đối với phân tích chi tiết trong một tác phẩm Ví dụ Phân tích chi tiết giọt nước mắt của bà cụ Tứ trong tác phẩm Vợ nhặt của Kim Lân Pauxtopxki từng cho rằng: “Chi tiết làm nên bụi vàng của tác phẩm”. Bụi vốn nhỏ bé, dễ lẫn, nhạt nhòa, phổ biến. Còn bụi vàng, nhỏ bé nhưng không dễ lẫn. Bụi vàng, nhỏ bé nhưng lấp lánh ánh sáng. Bụi vàng, nhỏ bé nhưng quý giá . Chi tiết đắt chính là bụi quý trong lao động của nhà văn, được mua bằng cái giá của lao động nghệ thuật chân chính: sức lực, tâm huyết, tình yêu, trải nghiệm. Ai dám chắc “bông hồng vàng” sẽ nở nếu không có một anh thợ quét rác thành Paris kiên trì gom bụi quý cho cô gái Xuyzan? Làm sao có được “tiếng hót hay nhất thế gian” nếu con chim nhỏ bé không lao mình vào bụi mận gai, đánh đổi cả sinh mệnh? Và làm sao “chiếc lá cuối cùng” còn ở trên cành để mang lại niềm tin cho một trái tim bé bỏng nếu không có hi sinh của người họa sĩ ấy? Đó không phải là truyền thuyết, là hư cấu, đó là những bông hoa của cuộc đời đã nở sau tất cả những hành trình hi sinh, khát vọng mệt nhoài. Bụi quý là tinh hoa, tinh huyết nở ra sau lao động cao quý của nhà văn. Chi tiết giọt nước mắt của bà cụ Tứ là hạt bụi vàng của tác phẩm Vợ nhặt đã làm nên nhà văn lớn Kim Lân. Đối với phân tích giá trị tác phẩm: giá trị hiện thực, nhân đạo Ví dụ: Phân tích giá trị nhân đạo trong tác phẩm Vợ nhặt của Kim Lân Nhà văn Thạch Lam đừng nói: “Văn chương là một thứ vũ khí vừa thanh cao vừa đắc lực mà chúng ta có để vừa tố cáo vừa thay đổi một thế giới xấu xa, giả dối, vừa làm tâm hồn người đọc trong sạch hơn, phong phú hơn”. Văn học đồng cảm, xót xa cho số phận của con người, văn học trân trọng, tôn vinh vẻ đẹp của con người, thì văn học cũng tố cáo, phê phán những thế lực chà đạp lên con người. Quá trình đồng cảm, quý trọng con người và quá trình tố cáo, phê phán những thế lực chà đạp lên con người là hai mặt của một đồng xu, luôn đi liền với nhau, có mối quan hệ mang tính biện chứng. Càng đồng cảm, xót xa cho số phận con người, sẽ càng căm ghét, phẫn nộ với những thế lực đày đọa con người. Càng trân trọng, nâng niu vẻ đẹp của con người, sẽ càng khinh ghét, những thế lực chà đạp, làm vấy bẩn vẻ đẹp ấy. Chủ nghĩa nhân đạo, do vậy, không chỉ là sự nâng niu trân trọng những vẻ đẹp của con người, mà còn muốn biến văn học thành một thứ vũ khí đấu tranh cho quyền sống của con người. Một khía cạnh không thể không nhắc đến của chủ nghĩa nhân đạo chính là tính chiến đấu rất cao của nó. Ví dụ: Phân tích giá trị hiện thực trong tác phẩm Vợ nhặt của Kim Lân Chủ tịch Hồ Chí Minh đã từng nhắn nhủ với các nghệ sĩ: “Văn hóa nghệ thuật cũng là một mặt trận. Anh chị em là chiến sĩ trên mặt trận ấy”. Một nhà văn dốc bầu máu nóng để yêu 7
- thương con người, để lòng mình lắng lại với những nỗi đau đời, đau người tha thiết, là nhà văn không thể câm lặng trước cường quyền, trước bạo lực, trước tàn nhẫn, là nhà văn không thể thản nhiên khi nhìn thấy con người bị chà đạp, bị vùi dập, là nhà văn không thể câm lặng trước giọt nước mắt của con người! Ngôn từ chính là vũ khí, trí tuệ chính là vũ khí, tình cảm chân chính chính là vũ khí – những nhà văn chân chính từ bao đời nay vẫn chiến đấu cho cuộc sống của con người như thế. Họ chính là những nhà nhân đạo chủ nghĩa lớn, là những nghệ sĩ vĩ đại. Sử dụng vũ khí sắc bén trong tay là thứ ngôn ngữ có sức mạnh, sức tố cáo Kim Lân mượn khung cảnh nạn đói là lời tố cáo đanh thép tội ác tày trời của bọn thực dân phát xít đã gây ra cho người dân ta những ngày trước Cách mạng tháng Tám năm 1945. Đó là nạn đói kinh hoàng năm Ất Dậu lấy đi tính mạng của “hơn hai triệu đồng bào ta chết đói”. Người dân lao động vì đói mà chết một cách thảm thương “nằm còng queo bên đường, nằm ngổn ngang khắp các lều chợ”, sống trôi nổi vật vờ “lũ lượt bống bế, dắt díu nhau xanh ngắt như những bóng ma”. Đánh giá chung về giá trị tác phẩm Ví dụ: Đánh gía giá trị tác phẩm Vợ nhặt “Nghệ thuật không cần phải là ánh trăng lừa dối, nghệ thuật không nên là ánh trăng lừa dối, nghệ thuật chỉ có thể là tiếng đau khổ kia thoát ra từ những kiếp lầm than” – Nam Cao. Thật vậy, phàm đã là nghệ thuật thì phải phán ánh những hiện thực ngoài kia một cách chân thực nhất. Một tác phẩm nghệ thuật văn học giàu giá trị như vậy đó chính là truyện ngắn “Vợ nhặt” của Kim Lân. Như chính tác giả đã chia sẻ “Những người đói họ không nghĩ đến về cái chết mà nghĩ đến cái sống”. c. Phần khái quát nghệ thuật tác phẩm Ví dụ: Phân tích nhân vật người đàn bà hàng chài trong tác phẩm Chiếc thuyền ngoài xa của Nguyễn Minh Châu. “Ai bảo dính duyên bút mức Suốt đời mang lấy số long đong Nguyễn Bính đã từng than thở như thế . Bao con người cũng phải gánh chịu nỗi đau, sự bạc bẽo của văn chương. Tại sao như vậy? phải chăng nghệ thuật đòi hỏi rất cao ở người nghệ sĩ. Đúng như Lêônit Lêônốp đã yêu cầu “ Mỗi tác phẩm là một phát minh về hình thức và một khám phá về nội dung”. Bằng ngòi bút tài năng, Nguyễn Minh Châu sử dụng bút pháp miêu tả tâm lí nhân vật đặc sắc, ngôn ngữ kể chuyện giản dị, đối thoại sinh động. Nghệ thuật trần thuật đặc sắc, lời kể khách quan chân thực, giọng văn trầm lắng nhiều trăn trở suy tư. Nhà văn đặt nhân vật vào tình huống truyện độc đáo bất ngờ mang tính nhận thức để khắc họa nổi bật tính cách nhân vật và thể hiện triết lí nhân sinh sâu sắc để làm bật lên chân dung người đàn bà hàng chài chân thực như bước ra từ cuộc đời. 3. Sử dụng lí luận khi nâng cao khẳng định vấn đề: Đừng vội vàng kết khi phân tích xong mà hãy khẳng định bình luận đã. Đoạn này thì mọi người có thể viết về sinh mệnh văn chương, sức sống trường tồn của nó hay tài năng của nhà văn nhà thơ Ví dụ: Nếu như tương lai của một nhà văn được đánh giá qua văn học anh ta để lại như lời của Albert Camus thì tôi nghĩ Nguyễn Minh Châu có thể tự hào về những gì mà ông đã để lại cho đời. Trang sách của Nguyễn Minh Châu đã làm đúng công việc của một kẻ sĩ " nâng giấc cho những người cùng đường tuyệt lộ", làm đúng công việc của một kẻ sĩ luôn " 8
- quan hoài thường trực cho số phận con người". Chiếc thuyền ngoài xa sẽ tồn tại trong dòng văn học như một chân giá trị để cảnh tỉnh con người về cuộc đời đa sự, và giữ cho chúng ta một cách tiếp cận đời sống sâu sắc Ví dụ : Đọc “Vợ nhặt” của Kim Lân ta chợt nhớ về Sê - khốp Nhà văn Nga từng nói: "Một nghệ sĩ chân chính phải là một nhà nhân đạo từ trong cốt tuỷ”. Qua truyện ngắn này ta đã bắt gặp được một Kim Lân, một nhà văn, một nghệ sĩ chân chính như thế. Ông đã bắc chiếc cầu nối đẹp đẽ cho quá khứ và hiện tại, cho các thế hệ mai sau biết về một thời kỳ gian khó mà chứa chan tình người của dân tộc Việt Nam. Những trang văn đậm “tình người” của Kim Lân sẽ còn sống mãi trong trái tim độc giả như cách độc giả nhớ về ông - người nghệ sĩ chất phác, đôn hậu của làng quê Việt Nam. 9

